Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2025/DS-ST

Ngày: 18-12-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Liêm

2. Bà Phan Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2025/TLST-DS, ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2025/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 367/2025/QĐST-DS, ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).

    Trụ sở: Số B đường N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh N - Quyền Tổng giám đốc (theo Quyết định số 3510/2025/QĐ-QTNNL, ngày 22/5/2025).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Giang C - Trưởng Phòng G - Chi nhánh A (theo Quyết định số 4039/2024/QĐ-PC, ngày 27/12/2024).

    Người được ủy quyền lại: Ông Đặng Nguyễn Quang B, sinh năm 1991. Địa chỉ liên hệ: số E đường T, phường L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng)

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1978.

    Cư trú: Số I đường H, tổ I, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn do ông Đặng Nguyễn Quang B là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 10/5/2021, ông Nguyễn Hữu Đ ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1422170 với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 26,6%/năm và thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Đến ngày 13/01/2022, ông Đ có Giấy đề nghị thay đổi hạn mức tín dụng xuống 50.000.000 đồng. Quá trình vay, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện trả nợ nhưng ông Đ vẫn không thực hiện và có tình trốn tránh. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/12/2025 là 65.509.352 đồng, trong đó: vốn 55.958.217 đồng, lãi 9.551.135 đồng; yêu cầu ông Đ tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/12/2025 đến khi trả hết nợ.

Quá trình giải quyết, mặc dù được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bị đơn ông Nguyễn Hữu Đ đều vắng mặt. Tại phiên tòa, ông Đ tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Nguyễn Hữu Đ trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/12/2025 là 65.509.352 đồng, trong đó: vốn 55.958.217 đồng, lãi 9.551.135 đồng. Ông Đ còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/12/2025 trên số dư nợ chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Hữu Đ. Theo Phiếu xác minh số 139/PXM-TA, ngày 10/10/2025 do Công an phường L cung cấp thì ông Đ cư trú tại số I, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ủy quyền cho ông Nguyễn Quang B (theo giấy ủy quyền ngày 17/12/2025), là phù hợp với quy định tại Điều 85 và Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ông B tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung: Ngày 10/5/2021, ông Nguyễn Hữu Đ ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1422170 với Ngân hàng TMCP S và được Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất trong hạn là 26,6%/năm và thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng cá nhân; đến ngày 13/01/2022, ông Đ có Giấy đề nghị thay đổi hạn mức tín dụng xuống 50.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay theo các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng đã ký, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ phải có trách nhiệm trả nợ như trên.

Trong suốt quá trình giải quyết, ông Đ đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Ông Đ không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1422170, ngày 10/5/2021 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, được ký kết giữa bên cấp tín dụng Ngân hàng TMCP S với bên vay ông Nguyễn Hữu Đ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu ông Đ có trách nhiệm trả số tiền tính đến ngày 17/12/2025 là 65.509.352 đồng, trong đó: vốn 55.958.217 đồng, lãi 9.551.135 đồng. Ông Đ còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/12/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Hữu Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Điều 357, 463, 466, 470 Bộ luật dvân sự năm 2015;
  • - Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Nguyễn Hữu Đ.
  • Buộc ông Nguyễn Hữu Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 17/12/2025 là 65.509.352 đồng (sáu mươi lăm triệu, năm trăm lẻ chín nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng), trong đó: vốn 55.958.217 đồng, lãi 9.551.135 đồng.
  • Kể từ ngày 18/12/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nguyễn Hữu Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  • - Về án phí: Ông Nguyễn Hữu Đ phải chịu 3.275.000 đồng (ba triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền 1.520.000 đồng (một triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003518, ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

  • - Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Hữu Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV9-AG;
  • - Phòng THADS KV9-AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

Hà Thị Chiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 210/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của NĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger