|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 210/2025/DS-ST Ngày: 04-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Mai Thanh Giàu
- 2/ Ông Trần Đăng Vạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2056/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 625/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 626/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ trụ sở chính: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Thạch T, sinh năm 1999.
Địa chỉ liên lạc: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Quyết định số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng TMCP S, Giấy ủy quyền số 686/2025/UQ-TGĐ ngày 20/02/2025 của Công ty TNHH Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S).
2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: số A Đường A, khu phố G, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 05/9/2024 nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, tại bản tự khai ngày 07/01/2025, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Vũ Thị Thạch T trình bày:
Ngày 04/7/2022, ông Nguyễn Trung H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS PayWave Cre Classic 472074-1881 cho ông H với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,77%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và ông H phải chịu các khoản phí theo thỏa thuận tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Sau khi được cấp thẻ ông H đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 14.829.032 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt cho đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 5.300.000 đồng.
Từ ngày 10/9/2022, ông H bắt đầu thanh toán trễ hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/12/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ VS PayWave Cre Classic 472074-1881 và chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu là 12.025.964 đồng sang nợ quá hạn (Điều 24 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn).
Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu ông H thanh toán ngay khoản nợ quá hạn đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện để ông H trả nợ, nhưng ông H vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H phải trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S tạm tính đến hết ngày 04/3/2025 là 25.581.044 đồng trong đó nợ gốc là 12.025.964 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.555.080 đồng.
Ông H còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 05/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Ngân hàng không biết vợ ông H là ai và đang cư trú tại đâu. Mặt khác Ngân hàng cũng chỉ cấp tín dụng cho cá nhân ông H, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông H có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Nguyễn Trung H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng ông H vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có cơ sở.
- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chuyển thông báo thụ lý vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đúng thời hạn theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ: Được Tòa án gửi Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông H phải thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 04/3/2025 tổng cộng là 25.581.044 đồng (trong đó nợ gốc là 12.025.964 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.555.080 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 05/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông H phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S; Ông H cư trú tại địa chỉ số A Đường A, khu phố G, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn ông H đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án cũng không nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc ông H vắng mặt có lý do chính đáng do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu cá nhân ông H thanh toán các khoản nợ do cá nhân ông H vay tiêu dùng cá nhân và xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông H trả nợ, nguyên đơn không biết vợ ông H là ai và không yêu cầu vợ ông H cùng trả nợ. Do đó Tòa án không cần thiết phải triệu tập vợ ông H (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.
[2.2] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu bị đơn ông H trả số tiền nợ gốc 12.025.964 đồng:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Ngày 04/7/2022, ông Nguyễn Trung H và Ngân hàng có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S theo đó Ngân hàng cấp tín
dụng V Classic 472074-1881 cho ông H với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,77%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau và ông H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Xét hợp đồng nêu trên các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, và các quy định của pháp luật về thẩm quyền ký kết nên đây là hợp đồng hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo nội dung đã thỏa thuận.
Sau khi được cấp thẻ ông H đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 14.829.032 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 5.300.000 đồng. Từ ngày 10/9/2022, ông H bắt đầu thanh toán trễ hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ.
Do đó, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ VS PayWave Cre Classic 472074-1881, chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu là 12.025.964 đồng sang nợ quá hạn từ ngày 11/12/2022 và khởi kiện yêu cầu ông H phải trả số tiền nợ gốc là 12.025.964 đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi:
Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tạm tính đến ngày 04/3/2025 là 13.555.080 đồng tiền lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022, Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc ông H phải thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 04/3/2025 tổng cộng là 25.581.044 đồng (trong đó nợ gốc là 12.025.964 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.555.080 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kể từ ngày 05/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông H phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 1.279.052 đồng;
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:
Buộc ông Nguyễn Trung H phải thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 04/3/2025, tổng cộng là 25.581.044 đồng (trong đó nợ gốc là 12.025.964 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.555.080 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.
Kể từ ngày 05/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Trung H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, các
bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất ông H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trung H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch là 1.279.052 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
H1 lại cho Ngân hàng S số tiền 525.597 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044503 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
4/ Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 210/2025/DS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 210/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng S khởi kiện ol6ng H
