Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/DS-ST

Ngày: 23 tháng 8 năm 2024

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Cư

Bà Huỳnh Thị Thanh Mỹ Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 202/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QĐST-DSST ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1); Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ nhận thông báo: Số E H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Pháp nhân nhận ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) - Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lê Ngọc T – Tổng Giám đốc; Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993; Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1969 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 10 năm 2023, các bản tự khai ngày 06 tháng 12 năm 2023, ngày 25 tháng 6 năm 2024 và ngày 23 tháng 8 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S1) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành N trình bày:

Ngày 18 tháng 12 năm 2020, Ngân hàng S1 và ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.059.100 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền là 9.270.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 11 tháng 01 năm 2022, Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 13.754.736 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Từ lúc chuyển nợ quá hạn, ông T1 có thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 400.000 đồng vào ngày 28 tháng 6 năm 2023. Số tiền này được ưu tiên trừ vào số tiền nợ gốc 13.754.736 đồng, nên số tiền nợ gốc là 13.354.736 đồng.

Tính đến ngày 23 tháng 08 năm 2024, ông T1 còn nợ tổng số tiền là 30.229.012 đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc là 13.354.736 đồng, lãi quá hạn là 16.874.276 đồng (số tiền lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2.6% x 150%) từ ngày S1 chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại).

Mặc dù Ngân hàng S1 đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông L, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn; đồng thời Ngân hàng S1 cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, nhưng ông L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng S1, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 phải thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 là 30.229.012 đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc là 13.354.736 đồng, lãi quá hạn là 16.874.276 đồng. Ngoài ra, ông T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – Ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dưới đây nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do:

  • - Thông báo thụ lý vụ án số 202/TB-TLVA ngày 01/11/2023; Giấy triệu tập số 26/GTT-TA ngày 21/12/2023 (đến Tòa án lúc 09 giờ 00 phút ngày 16/01/2024);
  • - Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 13/2024/TB-TA ngày 03/6/2024; giấy triệu tập số 89/GTT-TA ngày 03/6/2024 (đến Tòa án lúc 10 giờ 30 phút ngày 25/6/2024);
  • - Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 202-1/TB-TA ngày 25/6/2024;
  • - Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXX-DS ngày 15/7/2024; Giấy triệu tập số 97/GTT-TA ngày 15/7/2024 (đến Tòa án lúc 08 giờ 30 phút ngày 02/8/2024);
  • - Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QĐST-DS-HPT ngày 02/8/2024 (thời gian mở lại phiên tòa lúc 08 giờ 30 phút ngày 23/08/2024);

Tại phiên toà sơ thẩm,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 23 tháng 08 năm 2024. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê đề ngày 23/08/2024 xác định số nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (23/08/2024) mà ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S1 là 30.229.012 đồng (ba mươi triệu hai trăm hai mươi chín nghìn không trăm mười hai đồng); trong đó nợ gốc là 13.354.736 đồng, lãi quá hạn là 16.874.276 đồng. Ngoài ra, ông T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:

  • - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hoàng Ngọc Thanh thanh T2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 là 30.229.012 đồng (ba mươi triệu hai trăm hai mươi chín nghìn không trăm mười hai đồng); trong đó nợ gốc là 13.354.736 đồng, lãi quá hạn là 16.874.276 đồng. Ngoài ra, ông T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S1) khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Ngọc T3 trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Trên hợp đồng thẻ ghi địa chỉ bị đơn tại số B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B T, Phường A, Quận E nhưng không thực tế cư trú và cho biết hiện nay ông T1 đang cư trú tại 12.01 Cao ốc H T, Phường A, Quận E. Tuy nhiên, kết quả xác minh của Công an P1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 không đăng ký thường trú, tạm trú hay thực tế cư trú tại địa chỉ số A Cao ốc H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, bị đơn đã không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015, nên vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 5. Toà án xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng S1 có đơn đề ngày 23 tháng 8 năm 2024 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXX-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 (tham gia phiên tòa lần 01 lúc 08 giờ 30 phút ngày 02 tháng 8 năm 2024); Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QĐST-DS-HPT ngày 02 tháng 8 năm 2024 (thời gian mở lại phiên tòa lúc 08 giờ 30 phút ngày 23 tháng 08 năm 2024); các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 25 tháng 10 năm 2023, Ngân hàng S1 khởi kiện ông T1 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi quá hạn là vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Xét đối với yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc:

[3.1] Ngày 18 tháng 12 năm 2020, Ngân hàng S1 và ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng S1 đã cấp Thẻ tín dụng cho ông T1 với hạn mức là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo bảng tóm tắt sao kê ngày 23 tháng 8 năm 2024 thì sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện nhiều lần giao dịch với tổng số tiền là 19.059.100 đồng, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng S1 với tổng số tiền là 9.270.000 đồng (lần thanh toán cuối cùng là ngày 10 tháng 7 năm 2021). Từ ngày giao dịch cuối cùng (10/10/2021) đến ngày 10 tháng 01 năm 2022, ông T1 không thanh toán cho Ngân hàng S1, nên ngày 11 tháng 01 năm 2022, Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Sau khi Ngân hàng S1 chuyển nợ quá hạn, ông T1 có thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền 400.000 đồng (ngày 28/6/2023). Sau đó, ông T1 không thanh toán thêm bất kỳ khoản kỳ nào nữa. Số tiền này được ưu tiên trừ vào nợ gốc 13.754.736 đồng trước, nên số tiền nợ gốc là 13.354.736 đồng.

Mặc dù Ngân hàng S1 đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông T1 phải thanh toán theo đúng cam kết đã ký trên Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, nhưng ông T1 vẫn không thực hiện, vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng S1; việc chậm thanh toán và không thanh toán của ông T1 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng S1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S1 buộc ông T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 13.354.736 đồng cho Ngân hàng.

[4] Xét đối với yêu cầu thanh toán số tiền lãi:

[4.1] Căn cứ Căn cứ vào Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T4 phát hành tại Việt Nam số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06 tháng 8 năm 2019 do Ngân hàng S1 cung cấp, đối chiếu với thời điểm vay thể hiện mức lãi suất 2.6%/tháng. Tại thời điểm ông T1 ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất này và tại phiên tòa hôm nay mức lãi suất vẫn không thay đổi.

Căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

  • - Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
  • - Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời hạn chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”

Tiền lãi của ông T1 được Ngân hàng S1 tính như sau: Từ ngày 11 tháng 01 năm 2022, Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, số tiền nợ gốc tại thời điểm này là 13.754.736 đồng. Số tiền lãi quá hạn từ ngày 11 tháng 01 năm 2022 đến ngày 27 tháng 6 năm 2023 vẫn tính trên dư nợ gốc là 13.754.736 đồng x 3.9%/30 ngày x 533 ngày = 9.530.573 đồng

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, ông T1 có đóng 400.000 đồng, nên Ngân hàng S1 đã trừ số tiền này vào dư nợ gốc. Do đó, dư nợ gốc từ ngày 28 tháng 6 năm 2022 đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 là 13.354.736 đồng (13.754.736 đồng - 400.000 đồng), số tiền lãi quá hạn là 13.354.736 đồng x 3.9%/30 ngày x 423 ngày = 7.343.703 đồng

Tổng số tiền lãi ông T1 phải thanh toán cho Ngân hàng S1 tạm tính đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 là 9.530.573 đồng + 7.343.703 đồng = 16.874.276 đồng.

Vì ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng, nên Ngân hàng yêu cầu tính lãi quá hạn là 3.9% (2.6% x 150%) trên dư nợ gốc từ ngày 11 tháng 01 năm 2022 đến ngày 27 tháng 6 năm 2922 là 13.754.736 đồng và dư nợ gốc từ ngày 28 tháng 6 năm 2022 đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 13.354.736 đồng là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tiền lãi ông T1 phải thanh toán là 16.874.276 đồng.

[5] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 phải trả cho nguyên đơn một lần số tiền là tạm tính đến ngày 23 tháng 8 năm 2024 là 30.229.012 đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc là 13.354.736 đồng, lãi quá hạn là 16.874.276 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Ngoài ra, ông T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S1 trong khoảng thời gian dài, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S1 nên yêu cầu của Ngân hàng S1 là có cơ sở chấp nhận.

[6] Ông T1 không có mặt tại Tòa án để cho lời khai hoặc nêu ý kiến về các khoản tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán và các khoản phí mà S1 yêu cầu được xem là ông T1 đã từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh cho mình. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S1 với số nợ gốc, nợ lãi quá hạn mà Ngân hàng S1 yêu cầu ông T1 phải trả.

[7] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S1 được chấp nhận nên bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng S1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Căn cứ Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  • - Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1):
    1. Buộc ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) số tiền 30.229.012 đồng (ba mươi triệu hai trăm hai mươi chín nghìn không trăm mười hai đồng); trong đó: nợ gốc là 13.354.736 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.874.276 đồng theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 18 tháng 12 năm 2020.

      Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    2. Kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Hoàng Ngọc T1 chịu 1.511.451 đồng (một triệu năm trăm mười một nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) số tiền 570.063 đồng (năm trăm bảy mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0010909 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) và ông Nguyễn Hoàng Ngọc Thanh vắng M tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a,7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS nhân dân Quận 5;
  • - Chi Cục THADS Quận 5;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 210/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger