TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 210/2024/DS-ST Ngày: 10-7-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bé.
Ông Đoàn Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X.
Địa chỉ: Tầng H, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn L – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Tuyết H – Giám đốc Ngân hàng TMCP X Chi nhánh L1.
(Theo Giấy ủy quyền số 123/2022/EIB/UQ-TGĐ ngày 20/9/2022).
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Vân T – Nhân viên (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D T, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
(Theo Giấy ủy quyền số 357/2023/EIB/UQGĐ ngày 15/8/2023).
- Bị đơn:
1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
2. Bà Lương Thị Bé T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng X có người đại diện theo ủy quyền là Lê Vân T trình bày:
Ông Trần Văn Đ và bà Lương Thị Bé T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X – Chi nhánh L1 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), cụ thể như sau:
Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế Visa Platinum Cash Back Cash mức tín dụng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) vào ngày 13/4/2020.
Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế JCB Platinum Travel Cash Back mức tín dụng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vào ngày 02/8/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên ông Đ và bà T1 không thanh toán nợ đúng hạn như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ này sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Đ, bà T1 đến làm việc, yêu cầu thanh toán nợ nhưng đến nay ông bà vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 08/7/2024, ông Đ, bà T1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng nợ gốc và lãi của hai hợp đồng tín dụng là 72.959.479 đồng (Bảy mươi hai triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi chín đồng), trong đó nợ gốc và lãi của thẻ Quốc tế V là 28.995.515 đồng (Hai mươi tám triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm mười lăm đồng), nợ gốc và lãi của thẻ Quốc tế JCB Platinum Travel Cash Back là 43.963.964 đồng (Bốn mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm sáu mươi bốn đồng).
Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Đ và bà T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ, tạm tính đến ngày 08/7/2024 là 72.959.479 đồng, ngoài ra ông bà còn phải tiếp tục chịu các khoản lãi, tiền phạt vi phạm do chậm trả lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong.
Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai và quá trình tố tụng bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày:
Ông Đ thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Ông Đ và vợ ông là bà Lương Thị Bé T1 có ký kết sử dụng 02 thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X và nợ lại số tiền đúng như Ngân hàng trình bày. Ông Đ đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Bị đơn bà Lương Thị Bé T1 mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Ông T, ông Đ có đơn xin vắng mặt, bà T1 vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Vân T, bị đơn ông Trần Văn Đ cùng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Lương Thị Bé T1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông Đ, bà T1.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Văn Đ, bà Lương Thị Bé T1 phải cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số nợ gốc và lãi của 02 hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 08/7/2024 là 72.959.479 đồng. Bị đơn ông Đ thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về hợp đồng tín dụng và số tiền còn nợ đối với Ngân hàng. Ông Trần Văn Đ là người đứng tên trên hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, nhưng dựa trên tài liệu, chứng cứ Ngân hàng giao nộp cho thấy thời điểm phát hành thẻ tín dụng bà T1 là vợ hợp pháp của ông Đ, thông tin bà T1 được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng tín dụng ngày 20/3/2020 và Giấy xác nhận ngày 28/4/2020 có chữ ký, chữ viết mang tên “Lương Thị Bé T1”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự phản đối đó. Nếu bà T1 không thừa nhận số nợ trên với Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, trong suốt quá trình tố tụng, bà T1 vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, không thể hiện ý chí phản đối chứng cứ và tài liệu mà Ngân hàng cung cấp thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu ông Đ, bà T1 cùng có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ từ 02 hợp đồng tín dụng là có cơ sở phù hợp với khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Đ, bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí ông Đ, bà T1 phải nộp được xác định:
72.959.479 đồng x 5% = 3.647.973 đồng (Ba triệu, sáu trăm bốn mươi bảy nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X.
Buộc ông Trần Văn Đ và bà Lương Thị Bé T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X số tiền vốn và tiền lãi phát sinh theo hai hợp đồng tín dụng ngày 13/4/2020 và ngày 02/8/2021, vốn và lãi tạm tính đến ngày 08/7/2024 là 72.959.479 đồng (Bảy mươi hai triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi chín đồng), thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 09/7/2024, ông Đ, bà T1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán hoàn tất.
2. Án phí:
Ông Trần Văn Đ1, bà Lương Thị Bé T1 phải liên đới nộp 3.647.973 đồng (Ba triệu, sáu trăm bốn mươi bảy nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.600.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007278 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.
3. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 210/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 210/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng X yêu cầu ông Trần Văn Đ và bà Lương Thị Bé T trả tiền theo hợp đồng tín dụng
