TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày: 20/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Ông Trần Vũ Vương
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Đông- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Vũ An M, sinh năm 1963; Đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A hẻm C, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ An P và bà Nguyễn Thị X; Vợ Nguyễn Thị L, Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/03/1983 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã xóa án tích); Ngày 05/02/1988 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản của công dân (đã xóa án tích); Ngày 16/09/1989 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã xóa án tích); Ngày 29/01/1993 Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân (đã xóa án tích; Ngày 28/08/1996 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân (đã xóa án tích); Ngày 05/10/2000 Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); Ngày 22/04/2014 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); Năm 2005 Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 10/7/2018 Công an phường P, quận Đ xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. D chỉ bản số: 179 ngày 13/5/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Cháu Thái Bùi Khánh C, sinh ngày: 06/8/2010; Trú tại: Số G M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Bùi Thị Kim N; sinh năm: 1983 (mẹ đẻ cháu C); Trú tại: Số G M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; Trú tại: Số A hẻm C B, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Vũ An M nảy sinh ý định đi bộ lang thang mục đích xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 08h00' ngày 06/5/2024, M đi bộ đến trước cửa hàng C1, số A phố H, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội thì phát hiện 01 (một) chiếc xe đạp địa hình màu đen, có hai gióng màu trắng, hãng Thống Nhất của cháu T Bùi Khánh C, sinh năm: 2010, Trú tại: số G M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội đang dựng ở trước cửa, xe không khóa, không có người trông giữ. M tiến lại gần, dùng tay dắt chiếc xe trên xuống lòng đường phố H rồi M lên xe, đạp xe bỏ chạy theo hướng phố H ra ngõ A phố H vào ngách H ngõ D B, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Khoảng 09h00 ngày 06/5/2024, M đi chiếc xe đạp trên đến trước cửa số nhà B phố C, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội gặp và bán chiếc xe trên cho một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (M không quen biết) với giá 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng), số tiền trên M đã tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 18h ngày 09/5/2024, cháu C cùng mẹ là chị Bùi Thị Kim N đến Công an phường B trình báo sự việc. Cháu C và chị N cho biết chiếc xe đạp cháu C bị trộm cắp là xe địa hình nhãn hiệu Thống Nhất GN06- 26.20 màu đen có phần gióng xe (khung xe) màu trắng, trên gióng xe có chữ “THONG NHAT”, chị N mua chiếc xe trên với giá khoảng 3.000.000 đồng và cho cháu C sử dụng để đi học. Đến 16h00 ngày 10/5/2024, khi M đi bộ đến trước số nhà A phố H thì bị Tổ công tác Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính, M khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe đạp địa hình Thống Nhất tại trước số A phố H, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội vào ngày 06/5/2024. Cơ quan Công an đã đưa M về trụ sở Công an phường để làm rõ sự việc. Tại Cơ quan Công an, Vũ An M khai nhận đã trộm cắp chiếc xe đạp của cháu C như nội dung nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe đạp địa hình GN 06-26.20 màu đen có phần gióng xe màu trắng, nhãn hiệu Thống Nhất của cháu C bị trộm cắp. Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 71 ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H đã kết luận: 01 (một) chiếc xe đạp màu trắng, nhãn hiệu Thống Nhất GN 06-26.20, đã qua sử dụng có giá trị: 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng chẵn); Do chiếc xe không thu hồi được, ngày 29/5/2024, chị Nguyễn Thị L là vợ của bị cáo Vũ An M đã bồi thường cho cháu C số tiền 2.500.000đồng. Sau khi nhận bồi thường, cháu C và chị N không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự. Đối với người phụ nữ khoảng phụ nữ khoảng 40 tuổi đã mua chiếc xe đạp mà M trộm cắp được, M khai không quen biết. Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải, kết quả: Minh xác định được địa điểm bán chiếc xe cho người phụ nữ tại trước số B phố C, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người này, do vậy Cơ quan công an không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Bản cáo trạng số 215/CT -VKS ngày 23/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ An M về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau. Khoảng 08h00' ngày 06/5/2024, M đi bộ đến trước cửa hàng C1, số A phố H, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Vũ An M có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe đạp địa hình GN 06-26.20 màu đen có phần gióng xe màu trắng hãng Thống N1 đã qua sử dụng có giá trị 2.300.000đồng. Do đó đủ căn cứ khẳng định bị cáo Vũ An M phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bản thân bị cáo có nhiều tiền án và nhiều tiền sự, mặc dù các tiền án đã được xóa án tích, các tiền sự đã hết thời hiệu, nhưng để đánh giá về nhân thân của bị cáo xác định bị cáo có nhân thân rất xấu. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường bị hại khắc phục hậu quả. Đó là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về vật chứng: Không có
[5] Về dân sự: Bị hại đã nhận được tiền bồi thường thiệt hại về tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị L là vợ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và không có ý kiền gì về việc bồi thường này nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ An M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ An M: 12(Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2024.
Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ (chỉ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại).
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ An M phạm tội trộm cắp tài sản
