Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/DS-PT

Ngày 17-4-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

(lối đi chung) và yêu cầu quyền

về lối đi qua

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;
Bà Ngô Thị Bích Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu quyền về lối đi qua”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 133/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1941; địa chỉ: số A, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên lạc: số D, đường T, TTHC D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Ngô Bảo N, sinh năm 1996 và anh Dương Quốc H, sinh năm 2000; cùng địa chỉ liên hệ: số D, đường T, Trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2023); ông N vắng mặt, ông H có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Thanh P, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ H, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  2. Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1976; địa chỉ: số A, đường K, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A: Ông Đoàn Văn Đ1, sinh năm 1959; địa chỉ: số A đường L, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/3/2024); có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

- Người làm chứng:

  1. Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1950; địa chỉ: số E, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  2. Ông Bùi Thanh H1, sinh năm 1967; địa chỉ: số A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Đ và bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKN-VKS-DS ngày 31/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2023, lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Dương Quốc H trình bày:

    Nguồn gốc của thửa đất số 1430, 1431 (số thửa mới 1539), tờ bản đồ số 6BA, diện tích đo đạc thực tế là 491,1m² theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1929-2023 ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông nội bà Bùi Thị Đ (cụ Bùi Văn T) khai hoang và canh tác ổn định sau này để lại cho bố bà Bùi Thị Đ (cụ Bùi Văn T1) và sau này để lại cho bà Đ từ những năm 1975. Hiện nay, bà Đ vẫn đang quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên và không tranh chấp với ai.

    Thửa đất đang tranh chấp là một trong bốn phần mà cụ Bùi Văn T1 để lại cho các con, bao gồm ông Bùi Thanh P1, bà Bùi Thị Đ, bà Bùi Thị S. Theo đó, bà Bùi Thị Đ được 02 phần là 1.000m² trong tổng số khoảng 2.000m². Vào năm 2010, ông Bùi Thanh P1, bà Bùi Thị Đ, bà Bùi Thị S đã bán cho ông Bảy Q 1.500 m² (đây là phần đất bao gồm 500m² của ông Bùi Thanh P1, 500m² của bà Bùi Thị Đ, 500m² của bà Bùi Thị S) và khoảng 500m² còn lại do bà Bùi Thị Đ tiếp tục quản lý, sử dụng tôn tạo đến hiện nay. Thửa đất này có một cạnh giáp với đất của ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A, do đất của ông P, bà Vân A không có lối đi ra và do chưa có nhu cầu canh tác hoặc xây dựng công trình trên đất nên bà Đ để cho ông P và bà Vân A đi nhờ qua đất để đi ra đường công cộng.

    Tuy nhiên ngày 05/01/2023, bà Đ tiến hành làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D thì ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A cản trở không thực hiện việc ký xác nhận ranh vì cho rằng diện tích khoảng 30m² là lối đi chung của hai ông bà. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận phần diện tích khoảng 30m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Bùi Thị Đ.

    Đối với ý kiến của bị đơn về việc mở lối đi có ký hiệu (A) theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1929-2023 ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D với diện tích 82m² cho bị đơn để bị đơn đi ra đường công cộng mà không phải thanh toán giá trị cho nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

    Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày: Đồng ý mở lối đi có diện tích 82m² (ký hiệu A trên mảnh trích lục) cho các bị đơn và như các bị đơn đã trình bày trong quá trình tố tụng, hiện nay hoàn cảnh kinh tế của các bị đơn khó khăn nên nguyên đơn chỉ yêu cầu thanh toán số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) chứ không yêu cầu thanh toán hết số tiền 1.558.000.000đ (một tỷ năm trăm năm mươi tám triệu đồng) theo như định giá.

  2. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2023, quá trình tố tụng bị đơn ông Huỳnh Thanh P trình bày:

    Phần đất có diện tích 538,6m², thuộc thửa 1553, tờ bản đồ số 6BA theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH02337 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 18/12/2012, đất tọa lạc số 863B, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý sử dụng của ông, trên đất có 01 căn nhà cấp 04. Nhà, đất này ông nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Hoàng C vào năm 2008. Khi ông P nhận chuyển nhượng thì ông sử dụng con đường đi là đường bờ ruộng nhưng mỗi lần mưa xuống thì đường sình lầy, khó đi nên vài tháng nay ông P và bà Vân A có đắp tạm một con đường bên cạnh đất nhà bà Vân A, con đường tạm này tiếp giáp và đi qua đất dự án của Công ty G để đi ra đường công cộng, nhưng nếu công ty G bít phần đất này thì ông P và bà Vân A lại phải sử dụng con đường bờ ruộng để đi ra đường công cộng.

    Ông P không biết phần đường bờ ruộng trước đây ông P và bà Vân A đi qua thuộc đất của bà Đ, chỉ đến khi có người đến đề nghị ông ký giáp ranh cho họ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông mới biết đất đó thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ. Khi bà Đ yêu cầu ký giáp ranh, ông P và bà Vân A có thương lượng về việc trừ đường để ông P và bà Vân A có lối đi ra đường công cộng nhưng bà Đ không đồng ý. Vì vậy, ông P và bà Vân A không ký giáp ranh cho bà Đ nên bà Đ đã khởi kiện lên Tòa án để tranh chấp phần diện tích đất này.

    Ý kiến của ông P đối với yêu cầu của bà Đ: Theo ông biết, phần đường đi này có từ lâu nên đây là đường đi chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu xác định phần đất có diện tích khoảng 30m² không thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ thì đề nghị Tòa án công nhận phần diện tích này là đường đi chung để ông P và các hộ dân bên trong đất của bà Đ có đường đi ra đường công cộng. Trường hợp diện tích đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ thì đề nghị Tòa án giải quyết trừ phần diện tích đó ra để ông P và bà Vân A sử dụng làm đường đi ra đường công cộng, ông P và bà Vân A sẽ thương lượng để thanh toán lại giá trị cho bà Đ hoặc thanh toán theo đơn giá định giá do tòa án tiến hành định giá.

    Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, ông P yêu cầu trừ phần diện tích 82m² (ký hiệu A trên mảnh trích đo) để làm đường đi chung và không đồng ý thanh toán giá trị cho bà Đ.

  3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/7/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Vân A trình bày:

    Bà Nguyễn Thị Vân A là hàng xóm với ông P, không quen biết bà Đ. Diện tích đất thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Nguyễn Thị Vân A có nguồn gốc là bà nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Hồng P2, bà không nhớ rõ năm nhận chuyển nhượng, khi nhận chuyển nhượng trên đất đã có nhà cấp 04. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Vân A không sinh sống tại nhà đất này mà cho thuê cho đến nay, hàng tháng bà Vân A đến thu tiền trọ và thăm nhà, đất.

    Bà Nguyễn Thị Vân A thống nhất với phần trình bày của ông P về con đường đi ra đường công cộng. Con đường bờ ruộng khoảng 30m² theo như bà biết khi mua nhà, đất thì đã có từ lâu từ sau năm 1975, mấy đời chủ sử dụng diện tích đất bà nhận chuyển nhượng đã dùng con đường này để đi ra đường công cộng và đi từ ngoài đường công cộng vào nhà, đất nhà mình. Khi bà Vân A nhận chuyển nhượng, bà tiếp tục dùng con đường này để đi.

    Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Đ bà Vân A có ý kiến: Trường hợp Tòa án công nhận phần diện tích mà bà và ông P sử dụng để đi ra đường công cộng thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Đ thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp phần diện tích đất đó thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ thì bà đề nghị bà Đ chừa một phần diện tích ra (ký hiệu A trên mảnh trích lục) để làm đường đi chung cho bà và gia đình ông P được cùng sử dụng, bà Đ không được rào phần đất làm đường đi chung đó và bà yêu cầu được sử dụng mà không phải thanh toán tiền cho bà Đ.

  4. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/11/2023, bà Nguyễn Thị N2 trình bày:

    Bà Nguyễn Thị N2 với bà Bùi Thị Đ là con chú con bác, bà là con ông Bùi Văn L còn bà Đ là con ông Bùi Văn T2 (ở nhà hay gọi bác ba Thàn) còn tên trên giấy tờ là gì thì bà không rõ. Ông Nguyễn Văn S1 là chồng bà nhưng đã chết năm 1996. Ngày xưa, ông nội bà tên Bùi Văn T để lại cho các con trong đó có để lại cho bố của bà là Bùi Văn L và bác ba Thàn (bố của bà Đ) đất. Phần diện tích đất ông nội để lại cho bố của bà N2 là hơn 3.000m². Sau đó, bố của bà để lại cho bà nhưng khi đi làm giấy chứng nhận thì bà đã lấy chồng là ông Nguyễn Văn S1 nên bà để ông S1 làm thủ tục đăng ký kê khai và cấp giấy chứng nhận tên ông S1, còn ông nội để lại cho bác ba (ông T2) bao nhiêu thì bà không biết.

    Năm 1996, ông S1 chồng tôi chết thì bà làm thủ tục kê khai nhận di sản thừa kế toàn bộ diện tích đất này, sau đó do hoàn cảnh gia đình khó khăn bà đã chuyển nhượng gần 1.000m², số còn lại bà chia cho các con và hiện nay các con bà cũng đã chuyển nhượng gần hết phần diện tích ông, bà cha mẹ để lại. Thửa đất ông Nguyễn Văn S1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có một cạnh giáp đất của ông T2 (bố của bà Đ); một cạnh giáp đất ông ba Mộng (bà không biết chính xác tên trên giấy tờ) sau này ông ba M đã chuyển nhượng lại cho anh P; một cạnh giáp đất của ông Ao Văn X; một cạnh giáp đất của ông L1 (bà không biết rõ họ tên). Phần đất ông nội cho ba của bà ở trên, phần đất cho bác ba ở phía dưới và theo bà biết thì phần đất này con của bác ba (bà Đ) cũng đã bán cho ông Bảy Q gần hết diện tích. Bà xác định phần diện tích đất bà Đ đang tranh chấp với ông P và bà Vân A không liên quan đến diện tích đất hộ ông Nguyễn Văn S1 (chồng bà) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích hộ ông S1 được cấp giấy vẫn sử dụng ổn định từ khi được cấp đất cho đến khi ông S1 chết thì bà nhận thừa kế và bà chuyển nhượng, tặng, cho lại cho các con đều hợp pháp đúng quy định pháp luật, không bị ai tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện gì cho đến thời điểm này.

  5. Tại phiên tòa, người làm chứng ông Bùi Thanh H1 trình bày:

    Ông là cháu ruột của bà Đ, không quen biết ông P, bà Vân A. Ông là con của ông Bùi Thanh P1, ông có nghe bố ông và cô của ông (bà Đ) nói lại bố của ông, bà Đ và bà Bùi Thị S (cô của ông) được ông nội cho đất, sau đó bố ông, bà S đã bán toàn bộ diện tích đất ông nội cho ông Bảy Q (không biết họ tên, địa chỉ), còn bà Đ bán một phần, phần còn lại hiện nay bà Đ đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông P, bà Vân A tranh chấp nên chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được.

    Hiện nay, bà Đ tuổi cao sức yếu khó khăn trong việc đi lại nên có nhờ vợ chồng ông thỉnh thoảng xuống thăm đất, ông thấy hiện trạng thửa đất không có đường đi. Ông biết khi ông nội ông quản lý, sử dụng thì có canh tác cây trồng, sau này cho lại cho các con các con cũng canh tác nhưng sau đó năm 2010, ông P1, bà S, bà Đ bán cho ông Bảy Q thì không còn canh tác, do lúc đó bà Đ đã lớn tuổi mà lại không có con cái nên đất để trống. Trước đây ông nội của ông, sau đó là ba ông và các cô có đắp bờ ruộng để đi lại canh tác, bón phân, trồng cây, sau đó mọi người mới sử dụng đường này để đi qua chứ không phải là đường đi. Còn các hộ dân sử dụng đường đi này từ khi nào thì ông không biết.

  6. Tại biên bản xác minh do Tòa án tiến hành ngày 01/8/2023 và ngày 28/12/2023, Ủy ban nhân dân phường B cung cấp thông tin như sau:

    Theo bản đồ địa chính thành lập năm 1995 thì thửa đất 1539 (thuộc một phần thửa 1172, 1173) tờ bản đồ số 03 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn S1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 21 QSDĐ/CQ-1996 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố D) cấp ngày 27/12/1996, theo bản đồ địa chính thành lập năm 2005 thì thửa đất 1539 thuộc thửa 1430, 1431 tờ bản đồ số 6BA; thửa 1430 theo sổ mục kê do ông Bùi Văn L là người đăng ký kê khai, thửa 1431 do ông Bùi Văn T3 đăng ký kê khai.

    Theo bản đồ năm 2005, tại một phần thửa đất số 1430, 1431, tờ bản đồ số 6BA (15) có thể hiện đường đi. Phần đường đi thể hiện trên bản đồ năm 2005 có trùng với phần diện tích quy hoạch giao thông trên Mảnh trích lục địa chính số 1929-2023 hay không đề nghị Tòa án xác minh ở Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D.

    Liên quan đến nội dung hai hộ dân phía sau đi vào thửa đất bằng con đường nào, đề nghị Tòa án xác minh thực tế trong quá trình đưa ra xét xử.

  7. Tại Văn bản số 4953/CNVPĐKĐĐ-KTĐĐBD ngày 01/12/2023 về việc trả lời Công văn số 107/TA-DS của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D trả lời như sau:

    Phần diện tích 492.1m² (ký hiệu A, B) theo Mảnh trích lục có số hiệu TD.BA.15.30.31.45.DUOND.D.2023 ngày 24/8/2023 do Chi nhánh phát hành chưa được cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân nào.

  8. Tại biên bản xác minh ngày 02/01/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D cung cấp thông tin như sau:

    Phần “đường” theo bản đồ năm 2005 trùng với phần diện tích thuộc quy hoạch giao thông theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thành phố D theo Quyết định 06/QĐ-UBND tỉnh B ngày 05/01/2022. Căn cứ theo Quyết định 2012/QĐ-UBND ngày 01/6/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc ủy quyền và phân cấp quản lý, bảo trì các tuyến đường trên địa bản thành phố D, tuyến đường này không thuộc danh mục theo Quyết định trên.

    Kết quả xem xét thẩm định và định giá thể hiện:

    • Hiện trạng trên đất không xây dựng công trình gì. Có 02 cây dừa khoảng 40 năm do chủ cũ trồng, hiện tại do ông P quản lý; 07 cây chuối do bà Đ trồng khoảng hơn 6 tháng và 01 cây sắt phi 90 do ông P dựng lên để kéo dây điện.
    • Đơn giá quyền sử dụng đất: loại đất nông nghiệp – đất trồng cây hàng năm có đơn giá 19.000.000 đồng/m²; loại đất ở đô thị có đơn giá 25.000.000đ/m².

    Theo biên bản xác minh ngày 12/10/2023, Ủy ban nhân dân phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin: Thửa đất số 1430, 1431 tờ bản đồ số 6BA (15) thể hiện là đất trồng cây hàng năm.

  9. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Đ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung) với bị đơn bà Nguyễn Thị Vân A và ông Huỳnh Thanh P.
      • Công nhận phần đất có diện tích 29.85m² (ký hiệu C trên bản vẽ kèm theo) thuộc một phần thửa đất số 1430, 1431, tờ bản đồ số 6BA, đất tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương là đường đi chung cho hộ ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A.
    2. Bà Bùi Thị Đ có trách nhiệm mở thêm lối đi vào đất cho hộ ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A với diện tích 52.15m² (ký hiệu A trên bản vẽ kèm theo). Tổng cộng diện tích đường đi là 82m² (ký hiệu A + C trên bản vẽ kèm theo).
      • Buộc ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A thanh toán cho bà Bùi Thị Đ số tiền 990.850.000đ (chín trăm chín mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi có án sơ thẩm, ngày 30/01/2024 nguyên đơn bà Bùi Thị Đ do ông Dương Quốc H và ông Ngô Bảo N có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 14/3/2024, ông Đoàn Văn Đ1 là người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Vân A và ông Huỳnh Thanh P trình bày:

Bị đơn không đồng ý với bản án số 16/2024/DS-ST ngày 17/1/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An. Bà Nguyễn Thị Vân A và ông Huỳnh Thanh P là người có quyền sử dụng đất, có nhà ở riêng biệt được cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Từ trước năm 1975, qua nhiều đời chủ mua đi bán lại nay đến bà Nguyễn Thị Vân A và ông Huỳnh Thanh P mua đứng tên quyền sở hữu tài sản thì lối đi – đường công cộng đã có sẵn. Đồng thời, đã được Ủy ban nhân dân phường B, Phòng Quản lý đô thị thành phố D xác nhận. Nay bà Bùi Thị Đ không có giấy tờ gì chứng minh có quyền sở hữu, bà Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại tranh chấp khởi kiện ông P, bà Vân A là trái với quy định pháp luật. Bị đơn đồng ý với mục 1 quyết định của Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An; không đồng ý mục 2,3,4 vì: L2 đi vào đất của ông P, bà Vân A đã hiện hữu có sẵn và được cơ quan Nhà nước lập bản đồ quy định lộ giới, chỉ giới giao thông trên bản đồ năm 2005 tại Mảnh trích lục địa chính số 1929-2023 của Ủy ban nhân dân phường B. Bà Đ không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật nhưng Tòa cấp sơ thẩm lại quyết định "bà Bùi Thị Đ trách nhiệm mở lối đi .... Diện tích 52.15m²" và được hưởng số tiền 990.850.000 bất hợp lý. Hơn nữa, buộc ông P, bà Vân A trả số tiền trên cộng tiền án phí, chi phí thẩm định lại càng trái pháp luật. Vì ông P, bà A không tranh chấp, không khởi kiện, không yêu cầu bà Đ mở lối đi và không yêu cầu thẩm định giá. Bà Đ có yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp thuận thì phải chịu toàn bộ án phí, chi phí thẩm định mới đúng. Do vậy, đề nghị Tòa phúc thẩm sửa lại bản án tại mục 2,3,4 trong quyết định cũ án sơ thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKN-VKS-DS ngày 31/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An có nội dung: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A không có đơn yêu cầu phản tố về việc mở lối đi nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại giải quyết mở lối đi là vượt quá phạm vi khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nguyên đơn bà Bùi Thị Đ yêu cầu công nhận cho bà diện tích đất 82m² có nguồn gốc do ông nội của bà Đ để lại nhưng Tòa án chỉ công nhận cho bà Đ 52,15m² và tuyên 29,85m² là đường đi chung là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Bởi lẽ, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thanh P và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Vân A thể hiện: Thửa đất 1553 của ông P, thửa đất 1542 của bà Vân A và thửa đất 1539 là các thửa đất giáp ranh nhau, không thể hiện có lối đi chung (bút lục 180). Đồng thời, tại phiên tòa người làm chứng ông Bùi Thanh H1 xác định diện tích lối đi đang tranh chấp trước đây là đường bờ ruộng do cha của ông H1 và các cô đắp lên để đi lại canh tác, bón phân, trồng cây, sau này mọi người sử dụng đường này để đi qua chứ đây không phải là đường đi. Hơn nữa, theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông P và bà Vân A thì diện tích đất của ông P, bà Vân A rất lớn, có thể chừa đất để làm lối đi nhưng ông ông P, bà Vân A lại yêu cầu bà Đ phải chừa đường trên diện tích đất của bà Đ là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà Đ. Do bản án sơ thẩm có vi phạm về tố tụng và nội dung, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Bùi Thị Đ do ông Dương Quốc H đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A phải trả bằng giá trị đối với diện tích lối đi yêu cầu mở là 82m² theo giá Hội đồng định giá xác định là 19.000.000 đồng/m2 x 82m² = 1.558.000.000 đồng. Bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A do ông Đoàn Văn Đ1 đại diện yêu cầu được sử dụng diện tích lối đi 82m² trên nhưng không đồng ý bồi hoàn bằng giá trị cho nguyên đơn khoản tiền nào. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Trong vụ án này, bị đơn không có yêu cầu phản tố nên không có cơ sở để xem xét, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc mở lối đi có diện tích 82m² là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về sự có mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Ngô Bảo N vắng mặt; người làm chứng bà Bùi Thị N1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngô Bảo N và bà Bùi Thị N1.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn xác định diện tích khoảng 30m² đất thuộc một phần thửa đất 1430, 1431 tờ bản đồ số 6BA, thuộc quyền quản lý sử dụng của nguyên đơn không phải là đường đi chung. Bị đơn cho rằng phần diện tích đất đó là đường đi chung, con đường này có từ khi bị đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sử dụng để đi ra đường công cộng từ đó cho đến nay không có ai tranh chấp, diện tích đường đi khoảng 30m², khi Tòa án tiến hành đo đạc bị đơn yêu cầu trừ con đường có diện tích 82m² (ký hiệu A trên mảnh trích lục). Xét thấy, các bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A không có đơn yêu cầu phản tố về việc mở lối đi nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung)” và yêu cầu “Quyền về lối đi qua” theo Điều 254 của Bộ luật Dân sự và giải quyết mở lối đi là vượt quá phạm vi khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[2] Về nội dung: Các bị đơn cho rằng phần diện tích đất khoảng 30m² (chiều ngang 01m, chiều dài khoảng 30m) thuộc một phần thửa đất 1430, 1431 tờ bản đồ số 6BA là đường đi chung được các bị đơn sử dụng để đi ra đường công cộng, tuy nhiên, con đường đi chung này nhỏ nên các bị đơn đề nghị mở rộng con đường này ra với diện tích 82m² (chiều ngang 02m, chiều dài 42m - đến đất của bà Nguyễn Thị Vân A; ký hiệu A trên mảnh trích lục địa chính), phần diện tích đất này bà Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị bà Đ phải trừ ra cho các bị đơn đi mà các bị đơn không phải thanh toán giá trị. Nguyên đơn xác định phần diện tích đất bị đơn xác định là đường đi chung là đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn, do nguyên đơn chưa có nhu cầu sử dụng nên để cho các bị đơn đi nhờ qua đất, trường hợp bị đơn yêu cầu nguyên đơn mở lối đi để đi ra đường công cộng thì phải thanh toán giá trị cho nguyên đơn.

[3] Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường B thể hiện thửa đất số 1431 tờ bản đồ số 6BA do ông Bùi Văn T3 đăng ký kê khai, thửa đất số 1430 tờ bản đồ số 6BA do ông Bùi Văn L là người đăng ký kê khai. Đối chiếu với Biên bản lấy lời khai của bà Bùi Thị N1 (con gái ông Bùi Văn L, cháu gái ông Bùi Văn T2 và là em con chú với bà Bùi Thị Đ) thì thửa đất 1430, 1431 có nguồn gốc của ông nội bà N1, bà Đ là ông Bùi Văn T để lại cho bố của bà N1 (ông L), bà Đ (ông T2), sau đó ông L cho lại bà N1, ông T2 (tên thường gọi bác ba Thàn) cho lại các con của ông T2 trong đó có bà Đ. Tại bản tự khai bà Đ cũng xác định bố của bà tên trên giấy tờ là Bùi Văn T1 nhưng bà con thường gọi là Bùi Văn T4, tuy nhiên không hiểu sao khi đăng ký kê khai thì cán bộ lại ghi là Bùi Văn T3. Bà Đ xác định phần diện tích đất đang tranh chấp bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng từ khi bố bà để lại cho bà. Điều này cũng phù hợp với tài liệu là Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng sử dụng thửa đất (bút lục số 190) có trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Thanh P do Tòa án thu thập tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D thể hiện cạnh phía Đông đất của ông P giáp đất của bà Bùi Thị Đ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 492,1m² thuộc một phần thửa đất 1430, 1431 tờ bản đồ số 6BA thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ là phù hợp.

[4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tiến hành đo đạc đối với phần đất của nguyên đơn bà Đ đang quản lý sử dụng thuộc thửa số 1430 và thửa số 1431 và phần diện tích lối đi đang tranh chấp diện tích 82m² (ký hiệu A trên mảnh trích lục) mà không tiến hành đo đạc đối với thửa số 1553 của bị đơn ông Huỳnh Thanh P và thửa số 1542 của bị đơn bà Nguyễn Thị Vân A để xem xét hiện trạng thửa đất số 1553 và thửa 1542 còn tiếp giáp lối đi nào khác thuận tiện và hợp lý hơn lối đi đang tranh chấp hay không là điều tra, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.

[5] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKN-VKS-DS ngày 31/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKN-VKS-DS ngày 31/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Đ.
  3. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A.

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bị đơn ông Huỳnh Thanh P và bà Nguyễn Thị Vân A mỗi người số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tiền số 0004395 ngày 30/01/2024 và số 0004409 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - TAND thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu quyền về lối đi qua

  • Số bản án: 210/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu quyền về lối đi qua
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger