|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày: 14/8/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhung và ông Lê Văn Ninh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Quản Mỹ Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 25/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bế Ngọc M; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1959 tại Cao Bằng; nơi cư trú: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Ngọc M1, sinh năm 1939; và bà Hoàng Nhật B (tên gọi khác: Hoàng Nguyệt B), đã chết; có vợ: Dương Thị T (đã chết), Nguyễn Thị A (đã ly hôn); và 03 con; tiền sự: Không; tiền án 01: Tại bản án số 27/2009/HSST ngày 28/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 20 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong bản án ngày 03/3/2021. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Bà Vũ Thị S, sinh năm 1928, địa chỉ: xóm H, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Phạm Thị A1, sinh năm 1951, địa chỉ: xóm H, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Phạm Thị K. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 11/7/2023, Bế Ngọc M (không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn trắng, BKS: 29D-105.91 chở bà Phạm Thị K (sinh năm: 1960, trú tại xóm H, xã S, thành phố T – là bạn gái của M và sống chung với M như vợ chồng) và cháu Phạm Yến N, sinh năm: 2019 (là cháu bà K) đi đến nhà bà Vũ Thị S (sinh năm: 1928 - là mẹ đẻ của bà K) tại xóm H, xã S, thành phố T. Khi đến trước cổng nhà bà S, M điều khiển xe ô tô dừng sát lề đường bên trái (ngược chiều hướng đi của xe ô tô), cách tường rào nhà bà S khoảng 50cm, ở phía trước của xe ô tô có phơi một số bắp ngô dưới đất. Khi M dừng xe thì bà K bế cháu N vào nhà, còn M ngồi trên xe chờ bà K và vẫn để nổ máy xe. Khoảng 05 phút sau, bà K quay lại vị trí M đang dừng xe thì bà K nhìn thấy bà S đang ngồi xổm dọn ngô ở vị trí gần sát với thân xe ô tô bên trái. Sau đó bà K lên xe ngồi ở ghế phụ phía trước thì M bắt đầu điều khiển xe đi về hướng Ủy ban nhân dân xã S với tốc độ khoảng 10-15km/h. Do không chú ý quan sát, M không phát hiện thấy bà S ngồi ở phía trước đầu xe ô tô của M nên phần đầu của xe ô tô BKS: 29D-105.91 do M điều khiển đâm va vào người bà S, cuốn bà S vào gầm xe và kéo lê bà S dưới gầm xe khoảng 17,4m thì dừng lại. Lúc này, M cùng người dân xung quanh nhấc xe ô tô BKS: 29D-105.91 dịch sang rồi đưa bà S vào trong nhà, đồng thời trình báo đến Công an thành phố T để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hậu quả: Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bà Vũ Thị S tử vong.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn (BL 34-35). Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Hiện trường đoạn đường xảy ra tai nạn là đường bê tông liên xã thuộc xóm H, xã S, thành phố T, mặt đường trải bê tông phẳng có bề rộng mặt đường 6,0m, không có hệ thống vạch kẻ đường, có biển báo hiệu số W202b, hai bên lề đường rộng 1,5m.
Lấy cột mốc H7/3 nằm bên phải đường theo hướng Uỷ ban nhân dân xã S đi xã V, huyện P làm mốc, lấy mép phải đường hướng Ủy ban nhân dân xã S đi xã V làm mép chuẩn.
Ký hiệu (1) trên hiện trường là vết mài trượt trên mặt đường kích thước 17,5 x 0,4 m có chiều hướng xã V đi Ủy ban nhân dân xã S chếch chéo về mép trái đường của đường bê tông liên xã. Đo từ điểm đầu của (1) đến mép đường chuẩn là 0,2m; đo từ điểm cuối của (1) đến mép đường chuẩn là 1,6m; đo từ điểm cuối của (1) đến tâm đường là 1,4m; đo từ điểm cuối của (1) đến tâm của (2) là 0,2m.
- Ký hiệu (2) trên hiện trường là vùng máu kích thước 0,02 x 0,01m trên mặt đường, đo từ tâm (2) đến mép đường chuẩn là 1,4m; đo từ tâm của (2) đến điểm mốc là 2,0m.
Tại Biên bản xác định hiện trường hồi 15 giờ 30 phút ngày 18/4/2024 tại xóm H, xã S, thành phố T xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn được trải bê tông phẳng có bề rộng mặt đường là 6m, không có hệ thống vạch kẻ đường, có biển báo số W202b, hai bên đường có lề đất rộng 1,5m.
Lấy cột mốc H7/3 nằm bên phải đường theo hướng Uỷ ban nhân dân xã S đi xã V, huyện P làm mốc, lấy mép phải đường hướng Ủy ban nhân dân xã S đi xã V làm mép chuẩn.
Ký hiệu (1) (3) là vết mài trượt kéo dài trên mặt đường kích thước (17,5 x 0,4) m. Dấu vết có chiều dài từ xã V đi Ủy ban nhân dân xã S (từ T sang Đ), đo từ điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn là 0,2m. Đo điểm cuối dấu vết cách mép đường chuẩn là 1,6m.
Ký hiệu (2) là dấu vết máu trên mặt đường kích thước (0,02 x 0,01)m; đo từ tâm vùng (2) đến điểm cuối dấu vết mài trượt là 0,2m, đến mép đường chuẩn là 1,4m, cách điểm mốc là 2m.
Ký hiệu (4) là vị trí đỗ xe trước khi xảy ra tai nạn tại lòng đường bê tông liên xã, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe quay hướng T, vị trí xe đỗ cách mép chuẩn 0,8m, cách điểm đầu dấu vết mài trượt là 1,95m.
Ký hiệu (5) là vị trí phơi ngô tại lề đường bên phải theo hướng Đ đi T, đo từ tâm vùng phơi ngô cách mép chuẩn là 0,9m.
Ký hiệu (6) là vị trí đỗ xe ô tô BKS: 29D-105.91 sau khi xảy ra tai nạn tại sân nhà anh Phạm Ngọc T1, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, vị trí đỗ xe cách điểm đầu vết mài trượt là 15,2m.
Ký hiệu (7) là vị trí bà S ngồi phơi ngô khi xảy ra tai nạn tại mép phải đường hướng Đông Nam sang T, cách tâm của (5) là 1,35m, cách (4) 1,7m.
Tiến hành khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn là 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại: Morning, màu sơn trắng, BKS: 29D-105.91, số khung: 911BCT151473, số máy: G3LABP118484 đã qua sử dụng, kết quả như sau:
- Mặt ngoài góc phía trước bên trái cản trước có vết mài trượt nhựa rải rác bám dính chất bẩn màu đen trong diện (60 x 50) cm có chiều hướng từ trước về sau, bị bung bật các khớp nối;
- Ốp nhựa màu đen của đèn gầm phía trước bên trái có vết vỡ nhựa tại góc dưới bên trái kích thước (12 x 4) cm có chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, ốp nhựa này bị bung bật các khớp nối;
- Mặt trong của chắn bùn phía trước của bánh lốp trước bên trái, tại vị trí mép dưới có vết mài trượt nhựa kích thước (22 x 2) cm, có chiều hướng từ trên xuống dưới, tại vị trí ½ giữa phía trong của chắn bùn này có vết rách nhựa kích thước (16 x 0,1)m;
- Mặt ngoài má lốp trước trái và mặt ngoài lazang của bánh lốp này có vết mài trượt rải rác;
- Mặt trong má lốp trước bên trái có vết mài trượt cao su rải rác;
- Mặt dưới càng chữ A bánh lốp trước bên trái và ốp kim loại phía trước gầm xe xung quanh càng chữ A có vết chùi sạch bụi bẩn kích thước 0,8x0,6 cm có chiều hướng từ trước về sau.
- Bốn bánh lốp còn hơi, hệ thống đèn, còi, xi nhan hoạt động bình thường.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 992/KLGĐTT-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
Các kết quả chính:
Vùng thái dương phải, má phải đến vùng cổ phải có vết xây sát da bầm tím kích thước (22x6)cm; Dập rách vành tai phải, sau gốc tai phải có vết bầm tím, xây sát da kích thước (0,5 x 0,2)cm; Vùng thượng đòn phải đến vùng ngực phải có vết xây sát da kích thước (8x3,5) cm. Từ vai phải đến thắt lưng phải có vết xây sát, mài trượt da kích thước (30x13)cm. Vùng cùng cụt đến mông phải có vết sây sát da kích thước (20x12) cm; Vỡ xương vai phải; Gãy sập các xương lồng ngực; Dập, rách hai bên phổi. Khoang ngực có nhiều máu không đông; Gãy hai xương cẳng chân trái.
Kết luận: bà Vũ Thị S bị đa chấn thương: gãy xương hai cẳng chân trái, vỡ xương vai phải; chấn thương ngực kín, gãy sập các xương lồng ngực, dập rách hai bên phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành tạm giữ 01 vỏ bọc vô lăng hình tròn màu trắng sữa của xe ô tô BKS 29D-105.91 và thu mẫu máu của Bế Ngọc M. Tại bản Kết luận giám định ADN số HT415.23/PY-XNSH ngày 25/7/2023 của V – Cục Q kết luận: Dấu vết trên bọc vô lăng hình tròn, màu trắng sữa gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Bế Ngọc M.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Bế Ngọc M vào ngày 11/7/2023 kết quả: Âm tính (BL: 77). Kết quả xét nghiệm định lượng cồn trong máu của Bế Ngọc M: 0,84mmol/L (trị số bình thường <=1,76mmol/l).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T có Công văn đề nghị Sở Giao thông vận tải tỉnh T cung cấp giấy phép lái xe của Bế Ngọc M. Tại Thông báo kết quả xác minh giấy phép lái xe số 112 ngày 09/8/2023 của Sở Giao thông vận tải Ủy ban nhân dân tỉnh T kết luận:
Sở G không cấp giấy phép lái xe cho người mang tên Bế Ngọc M, sinh ngày 29/9/1959, số CCCD: [...], nơi đăng ký HKTT: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Sở G cấp giấy phép lái xe hạng A1, số GPLX: H130840, ngày cấp: 07/8/2002 cho người mang tên Bế Ngọc M, sinh năm 1959, nơi cư trú: phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại: Morning, màu sơn trắng, BKS: 29D-105.91, số khung: 911BCT151473, số máy: G3LABP118484 đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546663, biển đăng ký: 29D-105.91, tên chủ xe: Mai Xuân B1; 01 giấy chứng nhận kiểm định DA 4408221, biển đăng ký: 29D-105.91, có hiệu lực đến ngày 17/10/2023; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...], số biển kiểm soát 29D-105.91; 01 bọc vô lăng hình tròn, màu trắng sữa, đã qua sử dụng. Hiện số vật chứng trên đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
01 bì niêm phong ký hiệu “DLĐT”, bên trong chứa 01 thẻ nhớ Micro SD nhãn hiệu Kingston, màu đen, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng chứa dữ liệu liên quan đến vụ án (lưu theo hồ sơ vụ án).
Về phần dân sự: Gia đình bà Vũ Thị S không có yêu cầu đề nghị gì đối với M, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với M.
Cáo trạng số 200/CT-VKSTPTN ngày 21/7/2024 của Viện kiểm sát nhân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bế Ngọc M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bế Ngọc M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt: Bị cáo Bế Ngọc M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Xử lý vật chứng; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người đại diện của bị hại không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo rất ăn năn vì sơ suất của bị cáo dẫn đến bà S bị chết và dẫn đến tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại. Bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bế Ngọc M khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, biên bản đọc dữ liệu điện tử, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan...
Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 11/7/2023, Bế Ngọc M (không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn trắng, BKS: 29D-105.91 tham gia giao thông không chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện an toàn trước khi cho xe ô tô di chuyển dẫn đến phần đầu của xe ô tô BKS: 29D-105.91 do M điều khiển đâm va vào người của bà Vũ Thị S đang ngồi ở phía trước đầu xe ô tô và cuốn bà S vào gầm xe, sau đó kéo lê bà S dưới gầm xe khoảng 17,4m làm bà S tử vong. Phần dân sự đã giải quyết xong.
Hành vi của bị cáo Bế Ngọc M đã vi phạm khoản 23 Điều 8, Khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ 2008. Điều luật quy định:
“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
...
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
“Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông
1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp...”
Đối chiếu với pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm:
a, L chết người”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định...”
[3] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Bế Ngọc M chưa có tiền sự, có 01 tiền án, là người có nhân thân xấu.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu, tái phạm. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi không có giấy phép lái xe theo quy định mà tham gia giao thông là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, bị cáo điều khiển xe ô tô gây tai nạn dẫn đến chết người. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Biện pháp tư pháp:
8.1. Trách nhiệm dân sự: Người đại diện của bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
8.2. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bế Ngọc M 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia, số loại Morning, màu sơn trắng, biển kiểm soát 29D-105-91, số khung 911BC151473, số máy G3LABP118484, tình trạng đã qua sử dụng, xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546663, biển đăng ký 29D-105-91, tên chủ xe: Mai Xuân Bắc; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA4408221, biển đăng ký 29D-105-91, có hiệu lực đến ngày 17/10/2023; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...]; số biển kiểm soát 29D-105-91; 01 (một) bọc vô lăng hình tròn, màu trắng sữa, đã qua sử dụng.
[9] Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử miễn án phí đối với bị cáo, bị cáo là người cao tuổi. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, HĐXX quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo M.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bế Ngọc M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Xử phạt: Bị cáo Bế Ngọc M 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
-
Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Bế Ngọc M: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia, số loại Morning, màu sơn trắng, biển kiểm soát 29D-105-91, số khung 911BC151473, số máy G3LABP118484, tình trạng đã qua sử dụng, xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546663, biển đăng ký 29D-105-91, tên chủ xe: Mai Xuân Bắc; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA4408221, biển đăng ký 29D-105-91, có hiệu lực đến ngày 17/10/2023; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...]; số biển kiểm soát 29D-105-91; 01 (một) bọc vô lăng hình tròn, màu trắng sữa, đã qua sử dụng (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 225 ngày 30/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
-
Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Bế Ngọc M.
-
Quyền kháng cáo bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, người đại diện của bị hại./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Nhung - Lê Văn Ninh |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
