Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/DS-PT

Ngày 10 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán: Ông Hồ Minh Tấn

Ông Dương Hùng Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 334/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn:Trương Tuyết B, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Liêu Tuyết N1 - Sinh năm 1982 ; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
    2. Ông Nguyễn Văn L – Sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Tấn Đ; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn L là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Anh Trần Văn N trình bày: Trước đây, ông L, bà N1 có thỏa thuận mua thức ăn tôm và tấm bạt trải ao nuôi tôm với bà B, sau mỗi vụ thanh toán tiền cho bà B. Trong quá trình giao dịch ông L, bà N1 nợ bà B 359.300.000đ, cụ thể như sau:

Tiền thức ăn 233.300.000đ, tiền bạt 126.000.000đ. Ngoài ra, ngày 02/6/2021, ông L, bà N1 có vay số tiền 217.819.000đ. Bà B yêu cầu ông L, bà N1 trả số tiền 477.119.000₫.

Ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông thừa nhận còn nợ nguyên đơn 435.119.000 đồng. Tuy nhiên trong số nợ này: Số tiền 217.819.000 đồng là tiền nợ thuốc, thức ăn không phải tiền mượn. Tiền bạt 126.000.000đ là không đúng vì ông chỉ mua của bà B 3.000m² bạt x 28.000đ = 84.000.000đ. Ngoài ra, nguyên đơn chưa trừ chiết khấu cho ông trên số tiền 1.929.386.000đ (cụ thể: Đợt 1 số tiền 350.000.000đ, đợt 2 số tiền 345.000.000đ, đợt 3 số tiền 130.000.000đ, đợt 4 số tiền 58.000.000đ, đợt 5 số tiền 230.933.000đ, đợt 6 số tiền 288.535.000đ, đợt 7 số tiền 162.762.000đ, đợt 8 số tiền 196.337.000đ, đợt 9 số tiền 217.819.000đ). Ông yêu cầu trừ số tiền 254.804.600đ (gồm các khoản sau: Số tiền 19.866.000đ ông đã trả dư, số tiền chiết khấu 192.938.600đ và số tiền bạt 42.000.000đ) vào số tiền 477.119.000đ, số tiền còn lại 222.314.400đ đồng ý trả cho bà B.

Đối với bà Liêu Tuyết N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng đương sự vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 334/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Tuyết B.

Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Liêu Tuyết N1 trả cho bà Trương Tuyết B số tiền 477.119.000đ (bốn trăm bảy mươi bảy triệu một trăm mười chín nghìn đồng).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 11/01/2024 bị đơn là ông Nguyễn Văn L kháng cáo yêu cầu đối trừ lại số tiền tính trả dư, tiền chiết khấu, tiền bạt dư là 254.804.600 đồng, còn lại số tiền ông L nợ bà B, thực tế là 222.314.400 đồng, ông đồng ý trả số tiền này cho bà B. Ông L xin miễn án phí do hoàn cảnh khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn L theo biên bản đối chất ngày 10/5/2024, đối trừ chiết khấu 7%, buộc ông L thanh toán tiếp cho bà B số tiền 419.649.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Văn L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, ông chỉ thống nhất thanh toán cho bà B 222.314.400 đồng do bà Trương Tuyết B chưa trừ số tiền chiết khấu 254.804.600 đồng, trong số này có tiền thanh toán mua B1 là không đúng 42.000.000 đồng, tiền do ông L thanh toán dư là 19.866.000 đồng, tiền chiết khấu trên 100.000.000 đồng. Quá trình xét xử ông L không trình bày được các lần cụ thể mua bán và thanh toán như thế nào do thời gian mua bán kéo dài nhiều năm và người đại diện hợp pháp của bà B không thống nhất với các yêu cầu của ông L đặt ra. Toà án quyết định ngừng phiên toà để đối chất.

[2] Tại phiên đối chất sáng ngày 10/5/2024 giữa bà B và ông L thống nhất các toa vé liên quan trong vụ án này cụ thể:

Nội dung không tranh chấp: Bà B thống nhất toa mua bán từ ngày 01/7/2016 đến ngày 24/7/2016 số tiền 345.000.000 đồng và toa mua bán từ ngày 25/8 đến ngày 17/11/2016 số tiền 130.000.000 đồng ông L đã thanh toán xong bà B chưa trừ chiết khấu cho ông L.

Nội dung hai bên còn tranh chấp: Toa từ ngày 28/3 đến ngày 05/02 ông L thanh toán được 58.000.000 đồng, nợ lại 13.000.000 đồng; Toa từ ngày 28/3 đến 12/6 ông L thanh toán được 203.546.000 đồng; Toa từ ngày 10/01 đến ngày 13/3 ông L thanh toán được 288.000.000 đồng; Toa từ ngày 18/4/2018 đến ngày 25/11/2018 ông L thanh toán được 162.000.000 đồng; Toa từ ngày 15/9/2018 đến ngày 25/11/2018 tổng số tiền thiếu là 217.819.000 đồng, 10 ngày sau ông L đã thanh toán 100.000.000 đồng.

[3]Tại phiên toà được mở lại thì bà B không chấp nhận thanh toán tiền chiết khấu cho ông L, cho rằng do ông L chưa thanh toán hết nợ. Đối với T nào trong sổ thể hiện ông L trả dứt số nợ thì bà đã thanh toán tiền chiết khấu bằng tiền mặt cho ông L.

[4] Xét thấy: Theo sổ theo dõi của ông L thể hiện nội dung chữ viết của bà B được bà B thừa nhận các khoản bà chưa chiết khấu cho ông L gồm các toa số tiền 345.000.000 đồng, 130.000.000 đồng, 58.000.000 đồng (BL 71). Đối với khoản tiền 288.000.000 đồng (BL 60) bà B cho rằng ông L đã thanh toán đủ và bà đã trừ chiết khấu và đưa tiền mặt cho ông L, do sơ suất nên bà không ghi chữ “R” trong sổ ông L lưu giữ, bà B không chứng minh được đã thanh toán tiền chiết khấu cho ông L nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L đối với các toa vé nêu trên. Đối số tiền 350.000.000 đồng (BL 71), do không có toa thể hiện số tiền mua những vật liệu gì nên ông L không yêu cầu chiết khấu của toa này nên Hội đồng không đặt ra xem xét.

[5] Đối với khoản tiền 203.546.000 đồng (BL 64) và số tiền 162.762.000 đồng (BL 56) ông L cho rằng bà B chưa thanh toán, bà B xác định đã thanh toán xong vì trong sổ ông L lưu giữ thể hiện chữ “R” là thanh toán rồi, phù hợp với các tài liệu của toa vé khác mà ông L lưu giữ là các toa chưa thanh toán xong thì chưa ghi chữ “R” và cũng phù hợp với lời trình bày của ông L đối với các toa mua và thanh toán đủ tiền khi kết thúc mùa vụ thì bà B trừ chiết khấu, các toa này thể hiện ông L thanh toán đủ. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông L đối với số tiền trên bà B chưa thanh toán chiết khấu cho ông L.

[6] Đối với số tiền 217.000.000 đồng (BL 51) khi kết thúc mùa vụ ông L thừa nhận nợ lại, 10 ngày sau ông đã thanh toán cho bà B 100.000.000 đồng. Theo giấy biên nhận nợ và trong số ông L theo dõi thể hiện ngày kết thúc mùa vụ là ngày 25/3 (BL 51) nhưng đến ngày 02/6/2021 thể hiện giấy nợ là 217.000.000 đồng, phù hợp với lời trình bày của bà B là ông L cần dùng số tiền này nên không thanh toán cho bà, xem như ông L mượn lại nên bà yêu cầu vợ chồng ông L viết biên nhận mượn tiền để có cơ sở làm tin, khoản tháng 8 năm 2021 ông L mới thanh toán cho bà 100.000.000 đồng nên bà không đối trừ chiết khấu khoản chưa thanh toán này. Căn cứ vào toa thể hiện và quá trình thanh toán của ông L, không có cơ sở buộc bà B thanh toán tiền chiết khấu khoản tiền này cho ông L.

[7] Đối với tỉ lệ chiết khấu 7% hay 10 %, bà B chỉ chấp nhận chi chiết khấu 7%, ông L cho rằng 10%, ông L không có tài liệu chứng cứ chứng minh bà B thanh toán cho ông chiết khấu 10% nên chỉ có cơ sở chấp nhận số tiền bà B chưa chi chiết khấu cho ông L trên các khoản tiền cụ thể các Toa 345.000.000 đồng + 130.000.000 đồng + 58.000.000 đồng + 288.000.000 đồng = 821.000.000 đồng X 7% = 57.470.000 đồng.

[8] Về số tiền mua bạt, ông L cho rằng ông chỉ mua 3.000m² nhưng bà B lại tính tiền ông mua là 4.500m² là không đúng nên số tiền này chênh lệch là 42.000.000 đồng. Căn cứ vào giấy biên nhận nợ ngày 20/02/2021(BL 07, 08) thể hiện số tiền mua bạt của ông L là 4.500 x 28 = 126.000.000 đồng, ông L thừa nhận vợ ông có ký tên trong biên nhận, ông L chỉ chấp nhận mua 3.000 đồng x 20 = 84.000.000 đồng. Đối với số tiền 19.866.000 đồng ông L cho rằng thanh toán xong cho bà B nhưng bà B vẫn buộc ông thanh toán tiếp là đã tính dư, căn cứ trên sổ của ông L còn lưu giữ số tiền thể hiện ông L đã thanh toán xong. Ông L trình bày nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông L.

[9] Đại diện viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm buộc bà B đối trừ chiết khấu cho ông L là 57.470.000 đồng. Như phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở được chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Do tính lại số tiền ông Nguyễn Văn L kháng cáo có cơ sở nên bà Trương Tuyết B phải chịu án phí trên số tiền không được chấp nhận là 57.470.000 đồng x 5% = 2.873.500 đồng.

Ông Nguyễn Văn L có kháng cáo xin xem xét lại án phí sơ thẩm do hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng ông L không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh theo luật định để được xem xét nên buộc ông Nguyễn Văn L và bà Liêu Tuyết N1 phải chịu án phí trên số tiền 419.649.000 đồng là 20.000.000 đồng + (19.649.000 đồng x 4%) = 20.785.960 đồng.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Văn L không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 334/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Liêu Tuyết N1 thanh toán cho bà Trương Tuyết B số tiền 419.649.000đ (bốn trăm mười chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Tuyết B phải chịu 2.873.500 đồng, bà B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 11.542.000 đồng (mười một triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000294 ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, đối trừ bà B được nhận lại 8.668.500 đồng. Ông Nguyễn Văn L và bà Liêu Tuyết N1 phải chịu 20.785.960 đồng (Hai mươi triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn, chín trăm sáu mươi đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu. Ngày 16/01/2024 ông L đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000614 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi Cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Signature space)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 210/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger