|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 210/2023/HSST Ngày 09 tháng 11 năm 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Bình
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Minh - là thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Đào – Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2023/HSST ngày 02/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2023/QĐXXST – HS ngày 06/10/2023, theo quyết định hoãn phiên toà số 213/2023/HSST – QĐ ngày 24/10/2023 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN TRƯỜNG, giới tính: nam; sinh năm: 1997; Nơi cư trú: thôn Tràng Cát, xã Kim An, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn Dậu Sinh năm: 1969; Con bà: Đoàn Thị Thuý Sinh năm: 1970; có vợ là Bùi Thị Bích Phượng và 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: có 02 tiền sự đã xoá; Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Tin, sinh năm: 1990; Nơi ở hiện nay: 42 ngõ 460 Khương Đình, Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 ngày 21/6/2018, Nguyễn Văn T rủ Hà Văn H trọ của T1tầng 4 số A ngõ B H, T, Hsử dụng ma túy đá. Tại đây, T2bạc với Hlanh Nguyễn Văn T3cùng sử dụng ma túy đá rồi mượn xe máy của anh T1để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, anh T1điều khiển chiếc xe mang nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng – đen – bạc, đeo BKS: 90B1-858.55 đến nhà trọ của T để cùng sử dụng ma tuý. Thực hiện kế hoạch như đã bàn với T4trước. Hgiả vờ hỏi mượn anh T1chiếc xe Honda Wave anpha màu trắng – đen – bạc, đeo BKS: 90B1-858.55 nói để đi lấy đồ nhưng anh T5đồng ý cho mượn mà điểu khiển xe máy đưa H2Anh T1điều khiển chiếc xe máy trên đưa Hđến khu vực gần cây xăng tại A đường L, Đ, Hà Nội. Tại đây, H3 với anh T1đưa xe cho Hđể H4đi lấy đồ còn anh Tlngồi đợi ở quán nước gần đó. Do tin tưởng H5T1đồng ý giao xe cho HSau đó, H6khiển xe đến khu vực Đ, Htháo biển kiểm soát của xe vứt đi rồi tiếp tục đi đến khu vực cầu M, H7gặp TSau đó, H1 T6khiển chiếc xe trên đến thôn K, K, T, Htìm chỗ cầm cố. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Tvào quán của bà Nguyễn Thị M lá và đề nghị bà M1chiếc xe mô tô với số tiền 5.000.000 đồng hẹn sau 03 ngày sẽ quay lại chuộc xe. Tnói với bà M2xe của H8đi làm lại biển kiểm soát và nhà Trường ở thôn T, K, T, Hbà M3tin tưởng nhận cầm xe với số tiền 5.000.000 đồng. Bà M4cho T4.800.000 đồng rồi cắt lãi 200.000 đồng. Sau khi đặt xe, T7 cho Hsố tiền 500.000 đồng rồi quay lại về nhà trọ số A ngõ B H, T, Hà NộiDo không thấy Htrả xe và cũng không liên lạc được với H9ngày 24/6/2018 anh T1đến Công an phường Ttrình báo.
Cơ quan công an thu giữ của bà Nguyễn Thị M1:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha, không đeo biển số, màu trắng đen bạc, đã qua sử dụng, SK: RLHHC1219DY439968, SM: HC12E-544003
Tại bản kết luận giám định số 3755 ngày 19/7/2018 của V kết luận số khung, số máy trên chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng, đen, bạc BKS: 90B1 – 858.55, SK: RLHHC1219DY439968, SM: HC12E-544003 là nguyên thuỷ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 107/KLĐG-HĐĐGTS ngày 03/8/2018 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Tkết luận: chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen bạc, BKS: 90B1 – 858.55, SK: RLHHC1219DY439968, SM: HC12E-544003 có giá trị 12.000.000 đồng (Bút lục 148). Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Văn T1. Anh T1đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Quá trình điều tra, H H10 vắng mặt tại nơi cư trú, hiện không xác định được H ở đâu nên ngày 16/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an quận T truy nã đối với H H11 Hết thời hạn điều tra, hiện chưa bắt giữ được H, Cơ quan CSĐT – Công an quân Tđã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Hà Văn H
Đối với bà Nguyễn Thị M1, quá trình điều tra, xác định, về ý thức chủ quan khi nhận cầm cố chiếc xe máy trên, bà M không biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có, cũng không nói với ai trong gia đình. Quá trình xác minh, ngày 29/3/2022 bà M đã mất, chồng bà M2ông Nguyễn Văn T2 và các con không có yêu cầu bồi thường đối với số tiền bà M4cho Nguyễn Văn T3 Văn HDo vậy, cơ quan CSĐT - Công an quận T căn cứ xác minh làm rõ.
Về việc Nguyễn Văn T4 cùng Hà Văn HNguyễn VT1sử dụng ma tuý tại phòng của T12trình điều tra xét thấy bị can bị bắt sau ngày xảy ra vụ án không xét nghiệm được chất ma tuý trong cơ thể Tcùng các đối tượng khác, không thu được ma tuý, ngoài lời khai không có tài liệu khác chứng minh, tại bản cung ngày 05/9/2023 bị can Nguyễn Văn T5 không rủ H1 Tin đến phòng trọ sử dụng ma tuý, Tlvà Hcũng không sử dụng ma tuý tại phòng trọ của Tnên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Về dân sự: Bị hại trong vụ án là anh Nguyễn Văn T1, anh T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác.
Bản cáo trạng số 168/CT – VKS ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Nguyễn Văn Trường Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến bào chữa và cũng không tranh luận với bản luận tội và kết tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Tại phiên toà bị cáo khẳng định bị cáo không rủ Hvà T1đến phòng trọ của bị cáo để sử dụng ma tuý, H và Tlcũng không sử dụng ma tuý tại phòng trọ của bị cáo, bị cáo khẳng định bị cáo không nghiện ma tuý và từ khi tại ngoại đến nay bị cáo đã lấy vợ và có con, gia đình bị cáo ăn ở ổn định tại thôn T, xã K, huyện T, Hà Nội
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng thu được trong vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 22/6/2018, do có mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy của anh Nguyễn Văn T6 Văn T15bàn bạc với Hà V H12anh T1đến nhà Trường tại tầng 4 số A ngõ B H, T, Hà Nội để chơi sau đó mượn xe đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. Sau khi anh T1đến nhà Trường tại địa chỉ trên, H13thực hiện mục đích như đã bàn bạc với T16vờ mượn xe của anh T1để đi lấy đồ. Nhưng do anh Tlyêu cầu đi cùng nên H13chở anh T1cùng đi đến khu vực cây xăng tại A đường L, Đ, Hà Nội. Htiếp tục giả vờ mượn xe máy của anh T1đi lấy đồ và bảo anh Tlngồi ở quán nước chờ. Tin tưởng H3là thật, anh T1đã giao xe cho HKhi nhận được chiếc xe máy, H13điều khiển xe đến khu vực cầu M, H, Hgặp TSau đó, cả hai mang xe đi cầm cố cho bà Nguyễn Thị M1 lấy 5.000.0000 đồng chi tiêu. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội danh và hình phạt đợc quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của tổ chức, cá nhân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trao trả cho bị hại để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T17nơi cư trú rõ ràng nên xét không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấ thời gian thử thách, giao bị cáo về nơi cư trú quản lý giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại là anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản, và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Nguyễn Thị M1, quá trình xác minh, ngày 29/3/2022 bà M đã mất, chồng bà M2ông Nguyễn Văn T2 và các con không có yêu cầu bồi thường đối với số tiền bà M4cho Nguyễn Văn T3 Văn HDo vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về các vấn đề khác:
Đối với Hà V H10 là người cùng T18hiện hành vi phạm tội, Hà V H14 mặt tại nơi cư trú, hiện không xác định được H ở đâu nên ngày 16/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an quận T truy nã đối với H H11 Hết thời hạn điều tra, hiện chưa bắt giữ được H, Cơ quan CSĐT – Công an quân Tđã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với H H10 nên HĐXX không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo Nguyễn Văn T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về số tiền thu lời bất chính 5.000.000 đồng là tiền Tvà Hcầm cố tài sản cho bà M6đình bà M7có đề nghị nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T7 án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Các Điều 106; 136; 298; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã K giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T8 5.000.000 đồng là tiền thu lời bất chính mà có sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 210/2023/HSST ngày 09/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 210/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
