Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 210/2025/HS-ST

Ngày: 15/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;
  2. Ông Phạm Thế Hùng;

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 146/2025/TLST- HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình B (tên gọi khác: không), sinh năm: 1986 tại Nghệ An; thường trú: thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình L và bà: Nguyễn Thị T; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; không;

Nhân thân: Bản án số 66/2011/HSST ngày 12/7/2011 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

Bị tạm giam giam từ ngày 07/12/2023 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Ngọc H (tên gọi khác: không), sinh năm: 2002 tại Nam Định; thường trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (không rõ) và bà: Phạm Thị M; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; không;

Bị hại: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: 2 đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm: 1971; địa chỉ: 5 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Phạm Ngọc H rủ Nguyễn Đình B đi tìm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm. Khoảng 02 giờ 45 phút, ngày 08/11/2023, B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số 54F4-2759 chở H phía sau lưu thông đến trước nhà số B, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện ban công lầu 1 của nhà chị Nguyễn Thị L1 mở cửa. H nói B dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới, còn H trèo lên rào sắt đi bộ qua mái hiên lầu 1 đi vào trong phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite để trên bàn học, H tiếp tục đi xuống tầng trệt lấy trộm tiếp 01 máy vi tính xách tay hiệu MSI, Modem 15 B12MO 628VN đang cắm sạc trên bàn thu ngân và 01 ba lô bằng vải màu xanh;

Sau khi lấy được tài sản trên thì H để điện thoại, máy tính xách tay vào ba lô rồi đi ra theo lối đột nhập ban đầu. Sau đó, H đưa cho B số tài sản lấy trộm được mang đến khu vực đường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 5.200.000 đồng, chia mỗi người ½ số tiền, tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, B điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo biển số 54F4-2759 chở H phía sau đi từ đường Đ, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh về hướng thành phố T để tìm kiếm người dân có tài sản sơ hở lấy trộm. Khi đến trước nhà số E, Quốc lộ A, khu phố A, phường T, thành phố T thì bị Công an phường T, thành phố T tuần tra phát hiện H, B có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở để làm việc;

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T; Phạm Ngọc H và Nguyễn Đình B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên;

Bản kết luận định giá tài sản số 17-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, trị giá 2.933.000 đồng.
  • - 01 (một) máy vi tính xách tay hiệu MSI, Modem 15 B12MO628VN, core i5, ram 15GB, SSD 512 GB, trị giá 11.663.000 đồng.

Tổng trị tài sản 14.596.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S (không thu hồi được).
  • - 01 máy vi tính xách tay hiệu MSI, Modem 15 B12MO 628VN (không thu hồi được).
  • - 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro ô vuông màu xanh đen;
  • - 01 (một) áo thun đen tay ngắn ở giữa có in chữ "IDON'TSHED" màu trắng;
  • - 01 (một) quần thun màu xám có sọc màu đen bên túi quần trái trước có in chữ “Gucci” màu đen;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX màu xanh đen, biển số 54F4-2759, số khung: RLCN5P110AY155386, số máy: 5P11-155386. Qua xác minh xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Mỹ P đứng tên sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị L1 không có yêu cầu bồi thường

Tại bản Cáo trạng số 164/CT- VKSTPTĐ ngày 12/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc H và Nguyễn Đình B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo Phạm Ngọc H và Nguyễn Đình B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Ngọc H và Nguyễn Đình B về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị:
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam;
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị Phạm Ngọc H từ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam;
  • - Các bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 08/11/2023, bị cáo Nguyễn Đình B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển số 54F4- 2759 chở bị cáo Phạm Ngọc H; bị cáo H rủ bị cáo B tìm tài sản để trộm cắp tài sản, bị cáo B đồng ý. Các bị cáo đến trước nhà số B đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện ban công lầu 1 của nhà chị Nguyễn Thị L1 mở cửa; bị cáo B đứng cảnh giới, còn bị cáo H trèo lên rào sắt đi bộ qua mái hiên lầu 1 đi vào phòng ngủ lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 10 Lite và xuống tầng trệt lén lút lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu MSI, Modem 15 B12MO628VN, core i5, ram 15GB, SSD 512 GB và 01 balo bằng vải màu xanh. Tài sản trộm được, bị cáo H đưa cho bị cáo B tiêu thụ. Đến ngày 04/12/2023, các bị cáo bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ;

Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số A- KV3/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, trị giá 2.933.000 đồng.
  • - 01 (một) máy vi tính xách tay hiệu MSI, Modem 15 B12MO628VN, core i5, ram 15GB, SSD 512 GB, trị giá 11.663.000 đồng.

Tổng trị tài sản 14.596.000 đồng.

Đối với 01 ba lô bằng vải màu xanh không nhãn mác không thể hiện đầy đủ thông tin để thu thập, khảo sát giá (không thể nhãn hiệu, xuất xứ, hóa đơn chứng từ). Do đó, Hội đồng định giá chưa đủ cơ sở để tiến hành định giá theo quy định;

Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Đình B và Phạm Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 14.596.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn.

[3] Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn; bị cáo H là người rủ rê bị cáo B phạm tội, là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo B có vai trò là người cảnh giới, tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được và có nhân thân xấu. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo phải có mức án phù hợp với từng vai trò, hậu quả của các bị cáo gây ra để có mức án nghiêm khắc có tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe với các bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo H phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu (riêng bị cáo H áp dụng thêm tình tiết quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị L1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu các bị cáo có nghĩa vụ bồi thường tài sản chiếm đoạt; Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị L1;

[6] Về thu lợi bất chính: Bị cáo B đem các tài sản chiếm đoạt được bán thu lợi được số tiền 5.200.000 đồng; chia cho mỗi bị cáo số tiền 2.600.000 đồng, số tiền này do các bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định buộc mỗi bị cáo nộp lại số tiền 2.600.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước;

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ của bị cáo H: 01 áo thun đen tay ngắn ở giữa có in chữ “IDON’TSHED” màu trắng và 01 quần thun màu xám có sọc màu đen bên túi quần trái trước có in chữ “Gucci” màu đen- vật chứng trên không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy;
  • - Thu giữ của bị cáo B:
    • + 01 áo sơ mi dài tay sọc caro ô vuông màu xanh đen và 01 quần jean dài màu xanh- vật chứng trên không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy;
    • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu xanh đen biển số 54F4-2759, số khung: RLCN5P110AY155386, số máy: 5P11-155386. Qua điều tra, xác minh; chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm: 1971; địa chỉ: 5 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P khai chiếc xe trên đã bán lại cho một nam thanh niên (do thời gian đã lâu nên không nhớ rõ họ tên), không còn lưu giữ giấy tờ mua bán. Bị cáo B khai nhận chiếc xe trên bị cáo mua trên mạng xã hội facebook, không nhớ mua của ai giá 5.000.000 đồng, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cho việc mua bán xe nên không xác định hiện nay ai là chủ sở hữu hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên trong thời hạn 03 tháng, nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023;

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H1 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023;

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy:
    • + 01 (một) áo thun đen tay ngắn ở giữa có in chữ “IDON’TSHED” màu trắng;
    • + 01 (một) quần jean dài màu xanh;
    • + 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro ô vuông màu xanh đen;
    • + 01 (một) quần thun màu xám có sọc màu đen bên túi quần trái trước có in chữ “Gucci” màu đen;
    • + 01 (một) quần jean dài màu xanh;
  • - Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX màu xanh đen biển số 54F4-2759, số khung: RLCN5P110AY155386, số máy: 5P11-155386 trong thời hạn 03 tháng, nếu chủ sở hữu hợp pháp không đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
  • - Buộc mỗi bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.600.000 (hai triệu, sáu trăm ngàn) đồng để sung vào ngân sách nhà nước;

(Theo Phiếu nhập kho số NK25/273C ngày 04/4/2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 210/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger