|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 210/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 - 6 - 2025 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Cơ và ông Lê Mạnh Nhanh
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2025/ TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/ QĐXX - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QÐST - DS ngày 23/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987
HKTT: Cụm Dân Cư số 10, thôn V, xã M, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Lê Ngọc M, sinh năm 1986
HKTT: Xóm M, thôn L, xã M, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Chị N có mặt, anh M văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị N và anh Lê Ngọc M tự nguyện kết hôn vào ngày 09/3/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bột Xuyên (nay là xã Mỹ Xuyên), huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh M mắc tệ nạn xã hội (sử dụng ma tuý) không có trách nhiệm với gia đình. Năm 2023 anh M bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Sau khi mãn hạn tù anh M về địa phương, có đi làm, nhưng công việc thất thường, sau đó anh M lại tiếp tục có dấu hiệu sử dụng ma tuý, không trách nhiệm gì với gia đình. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị N đề nghị được ly hôn với anh M.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Ngọc Minh T, sinh ngày 21/12/2013; cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 26/8/2022, hiện nay cả hai con chung đang ở với chị N. Ly hôn chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cả hai con chung, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Lê Ngọc M trình bầy:
- Về hôn nhân: Anh M và chị Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn từ năm 2012. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống với nhau xẩy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn lại được với nhau, không được hạnh phúc, nên vợ chồng thống nhất với nhau là ly hôn để giải thoát cho nhau trong cuộc hôn nhân này.
- Về con chung: Anh M xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Ngọc M T, sinh ngày 21/12/2013; cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 26/8/2022. Ly hôn anh M xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cả hai con chung, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên toà: Chị N giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn không chấp hành nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Lê Ngọc M; giao cả hai con chung là cháu Lê Ngọc M T, sinh ngày 21/12/2013; cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 26/8/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh M đến khi chị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng anh Lê Ngọc M vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Lê Ngọc M tự nguyện kết hôn ngày 09/3/2012, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Bột Xuyên (nay là xã Mỹ Xuyên), huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Chị N xin ly hôn với anh M, anh M đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh M đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N và xử cho chị N được ly hôn anh Lê Ngọc M.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Ngọc M T, sinh ngày 21/12/2013; cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 26/8/2022. Quá trình giải quyết vụ án chị N, anh M đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Xét về điều kiện nuôi con giữa chị N và anh M là ngang nhau, nhưng hiện nay cháu D dưới 03 tuổi, cháu T lại là con gái, có nguyện vọng được ở với chị N, từ trước đến nay cả hai con chung đều do chị N nuôi dưỡng, chăm sóc. Để bảo đảm cuộc sống bình thường cũng như nguyện vọng của cháu T, nên HĐXX giao cả hai con chung cháu T, cháu D cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc có như vậy mới đảm bảo quyền lợi của con chung sau khi ly hôn; Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị N chưa yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh M, đến khi chị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Lê Ngọc M đều không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Tòa không xét.
Về công nợ chung: Không có, nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Ngọc M.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung là cháu Lê Ngọc M T, sinh ngày 21/12/2013; cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 26/8/2022. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh M đến khi chị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0077172 ngày 22/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị N đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kÓ tõ nguy nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 210/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 210/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA Nguyễn Thị N-Lê Ngọc M
