TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số 210/2025/DS – PT Ngày 27-03-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
“V/v Tranh chấp Thừa kế”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Đỗ Minh Hoàng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Toàn Giang; |
| Ông Đàm Văn Thuận. | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang – Thư ký Tòa án. | |
| Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương L - Kiểm sát viên. | |
Ngày 27/3/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 479/2024/TLPT-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 24/7/2024 của TAND huyện Đan Phương, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 107/2025/QĐXX-PT ngày 27/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 14/3/2025 của TAND Thành phố Hà Nội. Giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trương Quang T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Bị đơn:
- Ông Trương Quang H, sinh năm 1945. Địa chỉ: Số nhà B, đường L, thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Ông Trương Văn C, sinh năm 1954. Địa chỉ: Nhà số B, ngõ B, đường L, thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị D, sinh năm 1951. Địa chỉ: Số nhà D, ngõ B đường L, thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Bà Trương Thị L1, sinh năm 1958. Địa chỉ: Nhà số A, thôn I Y, xã T, huyện Đ, Hà Nội.
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1952. Địa chỉ: Số nhà B, đường L, thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Chị Cao Thị H1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Nhà số D, ngõ B, đường L, thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Người kháng cáo:
- Ông Trương Quang T là nguyên đơn.
- Ông Trương Quáng H2 là bị đơn.
Các đương sự, người kháng cáo đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm
- Nguyên đơn ông Trương Quang T trình bày:
Bố mẹ đẻ ông là cụ Trương Văn L2 (chết năm 1998) và cụ Phạm Thị T1 (chết năm 2012); có 05 người con đẻ gồm: 1.ông Trương Quang H, 2.bà Trương Thị D, 3.ông Trương Văn C, 4.bà Trương Thị L1 và 5.Trương Quang T; không có con nuôi con riêng nào khác. Bố mẹ đẻ của cụ L2, cụ T1 (Cố Nhạc, cố Khét, cố M và cố L3) đều đã chết trước hai cụ.
Bố mẹ ông có 27 thước đất thổ cư. Năm 1996, bố ông còn sống đã chia đất cho 03 người con là Trương Quang H, Trương Quang T, Trương Văn C; hai người con gái được hưởng theo phận nhà chồng nên các cụ không chia đất. Theo ông thì ông H được hưởng 10 thước đất thổ cư (240m²), ông C được hưởng 12 thước đất thổ cư (288m²) và ông được hưởng 5 thước đất thổ cư (120m²). Tại thời điểm đó các cụ chỉ đo thước.
Năm 1998 cụ L2 chết, cụ T1 còn sống đã họp bàn với các con và lập văn bản ngày 21/5/2003 có nội dung theo ý chí của cụ L2 lúc còn sống. Tuy nhiên sau khi cụ T1 chết (năm 2012) ông H không thực hiện theo đúng văn bản thoả thuận mà các bên đã thống nhất.
Ngày 22/4/2022 ông T đã làm đơn đề nghị UBND xã P tiến hành hoà giải nhưng ông H không đồng ý. Do đó ông làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của cụ L2, cụ T1 để lại là:
- Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 4 (Sau đây viết tắt là thửa đất số 75) do ông H đang quản lý. Thửa đất số 28, tờ bản đồ số 6 (Sau đây viết tắt là thửa đất số 28) do ông C đang quản lý đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 07/11/2022 ông T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 28. Ông T yêu cầu chia di sản thừa kế theo của pháp luật đối với thửa đất số 75 đã được UBND Thành phố H, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 636 ngày 10/12/1987 (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ số 636) cho cụ L2 được quyền sử dụng 360m² đất thổ cư.
- Bị đơn:
- Ông Trương Quang H trình bày:
Về quan hệ huyết thống đúng như ông T trình bày. Đối với phần đất ông đang quản lý, sử dụng là bố, mẹ ông để lại. Trước khi ông T khởi kiện các anh em đã họp thống nhất chia cho ông T 4,2m chiều rộng diện tích khoảng 120m² nhưng khi Văn phòng công chứng về làm thủ tục thì không thống nhất được về mặt ngôn từ nên các bên mẫu thuẫn dẫn đến không làm thủ tục được. Nay ông T có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế là thửa đất ông đang quản lý, sử dụng ông đề nghị chia theo pháp luật. Đối với phần đất đứng tên ông C là tài sản bố mẹ đã cho riêng ông C, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là di sản thừa kế nên ông không đồng ý chia theo quy định. Ngoài ra bố mẹ ông không còn di sản nào khác.
- Ông Trương Văn C trình bày:
Về quan hệ huyết thống ông thống nhất với T, ông H trình bày. Đối với phần đất do ông H đang quản lý, sử dụng là các cụ để lại, ông khẳng định lời khai của ông H về việc các anh chị em họp gia đình thống nhất chia cho ông T 120m² là đúng, nhưng sau đó các bên có mâu thuẫn nên không chia được. Nay ông T có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế ông đề nghị chia theo pháp luật. Nếu ông được hưởng ông xin nhường lại toàn bộ kỷ phần của ông cho ông H để thờ cúng tổ tiên. Đối với phần đất 288m² đất đứng tên ông là tài sản bố mẹ đã cho riêng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải là di sản thừa kế nên ông không đồng ý chia theo quy định. Ngoài ra bố mẹ ông không còn di sản nào khác.
- Ông Trương Quang H trình bày:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị D trình bày: Về quan hệ huyết thống ông thống nhất với T, ông H, ông C trình bày. Đối với thửa đất do ông H đang quản lý là do các cụ để lại, vẫn đang đứng tên cụ Trương Văn L2, bà đề nghị chia theo pháp luật. Đối với kỷ phần thừa kế bà được hưởng bà xin nhường lại cho ông H để thờ cúng tổ tiên. Đối với 288m² đất do ông C đang quản lý sử dụng là tài sản bố mẹ đã cho riêng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C, không phải là di sản thừa kế nên bà không đồng ý chia theo pháp luật. Ngoài các tài sản trên bố mẹ bà không còn di sản nào khác.
- Bà Trương Thị L1 trình bày: Về quan hệ huyết thống bà thống nhất với T, ông H, ông C, bà D trình bày. Thửa đất do ông H đang quản lý là do các cụ để lại, đứng tên cụ L2, bà đề nghị chia theo pháp luật. Kỷ phần thừa kế bà được hưởng bà xin nhường lại cho ông H để thờ cúng tổ tiên. Đối với 288m² đất do ông C đang quản lý sử dụng, là tài sản bố mẹ đã cho riêng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C, không phải là di sản thừa kế nên bà không đồng ý chia theo pháp luật. Ngoài các tài sản trên bố mẹ bà không còn di sản nào khác.
- Bà Trần Thị V trình bày: Về quan hệ huyết thống bà thống nhất với T, ông H. Thửa đất số 75 vợ chồng bà đang quản lý, sử dụng là do các cụ để lại, vẫn đang đứng tên cụ L2. Nay ông T có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Toàn bộ lời khai của ông H cũng là lời khai của bà.
- Chị Cao Thị H1 trình bày: Chị đang thuê khoảng 12m² trong diện tích đất tại thửa số 75, với ông H từ năm 2016 đến nay. Giữa chị và ông H không có hợp đồng thuê mà chỉ thoả thuận miệng. Chị tự xây dựng nhà tạm để mở hiệu thuốc, chi phí khoảng 20.000.000 đồng. Nay ông T có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất trên chị không liên quan gì, đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Do bận công việc nên chị xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Toà án.
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2023 và Biên bản định giá ngày 04/6/2023 của cấp sơ thẩm có kết quả.
Toàn bộ thửa đất số 75 có diện tích theo GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2 là 360m² nay do gia đình ông H quản lý có diện tích đo thực tế là 351 m². Tài sản trên đất: Ngoài nhà tạm 7 m² do chị H1 thuê (chị H1 xây để bán thuốc trị giá 7.872.000 đồng) để bán thuốc thì các tài sản khác gồm nhà cấp 4 có trần hiên, nhà ngang, sân, tường hoa, 2 cây mít, 2 cánh cổng sắt là do ông H xây dụng và có phần đất trống. Giá trị quyền sử dụng đất là 15.000.000 đồng/m².
Tại phiên toà sơ thẩm:
- - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị chia thừa kế theo pháp luật di sản do cụ L2 và cụ T1 để lại là Quyền sử dụng 351m² đất thửa số 75.
- - Bị đơn ông H và ông C vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Quyền sử dụng đất thửa số 75, GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ L2. Diện tích đất bị giảm qua các thời kỳ là do sai số đo đạc nên ông đồng ý với diện tích thực tế là 351m².
- - Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các bà D, L1 và bà V vẫn giữ nguyên lời khai đã trình bày. Các bà nhất trí với diện tích thực tế của thửa đất số 75 là 351m².
- - Kiểm sát viên VKSND huyện Đan Phượng phát biểu: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định di sản thừa kế mà cụ L2 và cụ T1 để lại là quyền sử dụng đất thửa số 75; Chia di sản thừa kế trên thành 06 kỷ phần, trong đó ông T được nhận 01 kỷ phần, ông Trương Quang H được nhận 05 kỷ phần.
Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 24/7/2024, TAND huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Quyết định:
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quang T đối với ông Trương Quang H và ông Trương Văn C.
- Xác định thời điểm mở thừa kế:
Xác định thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Trương Văn L2 là năm 1998. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 gồm: Cụ Phạm Thị T1, ông Trương Quang H, ông Trương Văn C, bà Trương Thị D, bà Trương Thị L1 và ông Trương Quang T.
Xác định thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Phạm Thị T1 là năm 2012. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 gồm: ông Trương Quang H, ông Trương Văn C, bà Trương Thị D, bà Trương Thị L1 và ông Trương Quang T.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trương Văn C, bà Trương Thị D và bà Trương Thị L1 để lại toàn bộ kỷ phần thừa kế mà các ông bà được nhận cho ông Trương Quang H.
- Xác định di sản thừa kế:
Di sản thừa kế của cụ L2 để lại bằng ½ giá trị đất tại địa chỉ thôn Đ, xã P, huyện Đ, thành phố Hà Nội là 351m² : 2 = 175,5m², tương đương 2.632.500.000 đồng.
Di sản thừa kế của cụ Phạm Thị T1 để lại bằng 1/2 giá trị đất và 01 kỷ phần thừa kế từ cụ L2 (tương đương 1/6 giá trị đất) tại thôn Đ, xã P, huyện Đ, thành phố Hà Nội có tổng là 175,5m² + 29,25m² = 204,75m², tương đương 3.071.250.000 đồng.
- Chia thừa kế bằng hiện vật cụ thể như sau:
Chia cho ông Trương Quang T được sở hữu diện tích đất là 70,2m2 tại thửa số 75, tờ bản đồ số 04 thôn Đ, xã P, huyện Đ, thành phố Hà Nội; giới hạn bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 2 (có sơ đồ kèm theo); tứ cạnh như sau: Phía đông giáp đường giao thông, phía tây giáp nhà ông Trương Văn C, phía nam giáp ngõ đi chung, phía bắc giáp nhà ông Trương Quang H. Ông Trương Quang T được sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà C4, diện tích 7m², xây năm 2021. Ông T có trách nhiệm thanh toán số tiền 7.872.000 đồng (Bảy triệu tám trăm bảy hai nghìn đồng) cho chị Cao Thị H1. Buộc ông Trương Quang H tháo dỡ 01 cánh cổng sắt nằm trên phần đất thuộc sở hữu của ông Trương Quang T.
Chia cho ông Trương Quang H được sở hữu diện tích 280,8m2 giới hạn bởi các điểm 6, 7, 8, 9, 1, 2, 6 (có sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm.
- Ông T là nguyên đơn. Với lý do : Quyết định bản án chưa đảm bảo đúng quyền lợi của ông, vì khi bố ông còn sống đã chia cho ông 120m². Nay chia cho ông 70,2m² nên kháng cáo yêu cầu chia cho ông 120m².
- Ông H là bị đơn. Với lý do: Bản án sơ thẩm không khách quan, không đúng thực tế. Trong đó, có 02 vấn đề chính như sau:
- Phân chia diện tích đất di sản thừa kể cho các thành viên được thừa kế di sản không đúng pháp luật.
- Vị trí, hướng phân chia đất di sản thừa kế không phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo:
- - Ông T trình bày: Xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông thừa nhận ông đang quản lý bản chính GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ L2. Nếu Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ông sẽ giao lại theo quy định pháp luật.
- - Ông H trình bày: Xác định Bản “Di chúc viết” viết tay đề ngày 21/5/2003 không có hiệu lực pháp luật. Ông không nhất trí giao cho ông H diện tích đất như cấp sơ thẩm đã chia vì diện tích này chắn trước toàn bộ diện tích đất còn lại, ảnh hưởng đến việc ông làm nhà thờ. Đồng ý chia cho ông T đất nhưng ở vị trí phía trong.
Các đương sự không kháng cáo:
- - Bà D, bà L1, bà V và ông C trình bày: Nhất trí với toàn bộ ý kiến trình bày tranh luận của ông H. Bà D, bà L1 và ông C xác định kỷ phần thừa kế mà họ được hưởng thì đều tự nguyện tặng cho ông H.
- - Chị H1 trình bày: Chị thuê đất của ông H với giá 150.000 đồng/tháng, đã trả tiền đủ hàng tháng cho ông H. Chị đã xây gian nhà tạm để bán hàng; bản án sơ thẩm giao phần đất cho ông T có gian nhà tạm của chị, ông T phải trả chị 7.872.000 đồng chị nhất trí và giao gian nhà tạm cho ông T. Chị không yêu cầu quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án này.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T; không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng
- - Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
- - Ông T tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử chấp nhận và đình xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T theo quy định tại khoản 3 Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về Nội dung:
- Những nội dung các đương sự cùng thống nhất, không kháng cáo:
- Bố mẹ đẻ của các ông bà: C, T, H, D, L1 là cụ Trương Văn L2 chết ngày 28/02/1998 và cụ Phạm Thị T1 chết ngày 07/04/2012 cùng không có di chúc bằng văn bản để lại; Bản “Di chúc viết” viết tay đề ngày 21/5/2003 không có hiệu lực pháp luật.
- Di sản của cụ L2 và cụ T1 để lại mà các đương sự đề nghị phân chia thừa kế là Quyền sử dụng đất 351 m² (theo số đo thực tế hiện tại) thửa đất số 75 tờ bản đồ số 04 theo GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2 tại: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội.
- Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 và cụ T1 là 05 người con đẻ gồm: 1.ông Trương Quang H, 2.bà Trương Thị D, 3.ông Trương Văn C, 4.bà Trương Thị L1 và 5.Trương Quang T. Ngoài ra không có ai khác.
- Ông Trương Văn C, bà Trương Thị D, bà Trương Thị L1 tự nguyện nhượng lại toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng từ cụ Trương Văn L2 và cụ Phạm Thị T1 cho ông Trương Quang H.
- Đình chỉ xét yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn T2.
- Xét kháng cáo của ông H. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “ Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản thừa kế bằng nhau”. Do đó cấp sơ thẩm chia cho những người cùng hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2, cụ T1 gồm các ông C, T2, H và các bà L1, D mỗi kỷ phần được hưởng kỷ phần thừa kế từ di sản của cụ L2, cụ T1 bằng nhau là đúng quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm ông H không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu về công sức quản lý di sản. Tuy nhiên: Thực tế ông H chỉ thực quản lý khối di sản kể từ sau khi cụ T1 chết (năm 2012), trước và sau khi cụ T1 chết thì thửa đất số 75 đã được cấp GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/04/2024 và các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đều đã xác định: Trên thửa đất số 75 có các tài sản đều có từ khi cụ L2, cụ T1 còn sống là nhà cấp 4 trần hiên xây năm 1980; nhà ngang xây dựng năm 1990, sân. Kể từ khi cụ T1 chết không có việc bổ sung xây dựng hoặc đỏ thêm đất, cải tạo thửa đất số 75. Các đương sự cùng chỉ yêu cầu phân chia thừa kế là quyền sử dung 351 m² đất tại thửa đất số 75; Các tài sản trên đất thuộc về phần đất ai được chia thì người đó được hưởng. Cấp sơ thẩm ghi nhận việc ông C, bà D, bà L1 tặng cho kỷ phần mà họ được phân chia cho ông H được hưởng; đã giao cho ông H 280,8m² đất cùng toàn bộ tài sản trên đất mà không phải thanh toán lại giá trị tài sản; Sau khi cụ T1 chết, ông H không trực tiếp ở trên nhà đất mà cho chị H1 thuê một phần đất thu được tiền từ việc khai thác cho thuê nhưng ông T2 và các đương sự khác không yêu cầu phân chia khoản tiền ông H đã được hưởng lợi là đã có lợi cho ông H; ông H có xây dựng cánh cổng sắt trên phần đất giao cho ông T2 thì cấp sơ thẩm đã tuyên cho ông được tháo dỡ để sử dụng. Do đó cấp sơ thẩm không tính công sức trông nom thửa đất số 75 kể từ khi cụ T1 chết là phù hợp pháp luật.
Cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ L2 và cụ T1 để lại Quyền sử dụng đất 351 m² thửa đất số 75; trị giá bằng tiền (351 m² x 15.000.000 đồng/m²) là 5.265.000.000 đồng. Mặc dù cụ L2 chết ngày 28/02/1998 (thời điểm mở thừa kế là ngày cụ chết) cụ T1 chết ngày 07/04/2012 (thời điểm mở thừa kế là ngày cụ chết); Chia thừa kế di sản theo thời điểm mở thừa kế của từng cụ. Tuy nhiên hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ không thay đổi nên chia chung khối di sản của hai cụ cùng một lần cũng đúng với giá trị mỗi kỷ phần không thay đối. Cụ thể: Di sản của hai cụ trị giá thành tiền là 5.265.000.000 đồng chia đều cho 5 kỷ phần thừa kế (Các ông C, T2, H và các bà L1, D) mỗi kỷ phần được hưởng trị giá bằng tiền là 1.053.000.000 đồng. Đối chiếu với giá 15.000.000 đồng/m² thì mỗi kỷ phần được 70,2m² đất hoặc chia theo diện tích đất thì 351 m² đất chia đều cho 5 kỷ phần thừa kế; mỗi kỷ phần được hưởng 70,2m² đất tại thửa đất số 75. Do đó cấp sơ thẩm chia cho ông T2 70,2m²; Ghi nhận việc ông C, bà D, bà L1 tặng cho kỷ phần mà họ được phân chia cho ông H được hưởng; đã giao cho ông H 280,8m² đất là đúng quy định pháp luật.
Căn cứ sơ đồ thửa đất đã được thẩm định. Đối chiếu với phần đất ông T2, ông H được chia có đủ căn cứ xác định vị trí mà cấp sơ thẩm phân chia cho ông T2 là phù hợp sử dụng. Mặc dù ông H cho rằng: Vị trí phần đất ông T2 được phân chia là về phía Nam, cạnh phía Bắc đất của ông T2 được chia chắn trước phía Nam phần đất của ông được chia mà ông sẽ xây dựng nhà thờ tổ tiên, ảnh hưởng phong thủy thậm chí khi ông T2 xây dựng nhà có thể nhà vệ sinh gây ảnh hưởng nhà thờ; ông muốn giao cho ông T2 đất về phía Tây giáp đất nhà ông C. Tuy nhiên việc ông H trình bày là không có căn cứ chứng minh; việc ông T2 được chia đất nếu ông sử dụng xây nhà thì phải tuân thủ các quy định pháp luật về xây dựng; quy định nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bất động sản liền kề quy định tại Bộ luật dân sự. Căn cứ sơ đồ thửa đất đã phân chia; phần đất ông T2, ông H được chia có đủ khoảng cách để thực hiện các quy định về bất động sản liền kề. Pháp luật không có quy định về phong thủy. Việc ông H đề nghị giao cho ông T2 phần đất về phía Tây giáp đất nhà ông C nhưng ông T2 không đồng ý. Phần đất chia cho ông T2 là đất trống chỉ có nhà tạm trị giá 7.872.000 đồng của chị H1, chị H1 nhất trí giao cho ông T2 sử dụng và thanh toán bằng tiền cho chị mà không không phải tháo dỡ; diện tích đất ông T2, ông H được giao đều sử dụng thuận tiện về lối di, thuận tiện trong việc thi hành án. Do đó không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông H.
Tuy nhiên: Bản án sơ thẩm còn một số nội dung còn thiếu sót; cấp phúc thẩn cần phải khắc phục cho phù hợp. Cụ thể:
Ngày 07/11/2022 ông T2 có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 28 nên cần phải tuyên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu ông T2 đã rút.
Ông T2 phải thanh toán 7.872.000 đồng cho chị H1 giá trị gian nhà tạm hiện nằm trên đất ông được chia, nhưng không tuyên nghĩa vụ chịu lãi do chậm thi hành án; không tuyên quyền nghĩa vụ đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản được phân chia cho đương sự; không yêu cầu ông T2 là người đang quản lý GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2 phải giao nộp để thực hiện việc đăng ký kê khai theo quyết định của bản án. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm khắc phục những thiếu sót trên.
- Những nội dung các đương sự cùng thống nhất, không kháng cáo:
- Về án phí:
- Giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm.
- Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Các Điều 147, 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều: 609,611,612,613,623,649,650,651 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Luật người cao tuổi.
Xử:
Chấp nhận việc tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo của ông Trương Quang T. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trương Quang T
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Quang H. Sửa về cách tuyên án tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 24/7/2024, TAND huyện Đan Phương, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quang T đối với ông Trương Quang H và ông Trương Văn C.
- Xác định cụ Trương Văn L2 chết ngày 28/02/1998; cụ Phạm Thị T1 chết ngày 07/04/2012 cùng không có di chúc bằng văn bản để lại. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2, cụ T1 gồm: Ông Trương Quang H, ông Trương Văn C, bà Trương Thị D, bà Trương Thị L1 và ông Trương Quang T.
- Xác định khối di sản chung của cụ Trương Văn L2 và cụ Phạm Thị T1 để lại là Quyền sử dụng 351m² thuộc thửa đất số 75 tờ bản đồ số 04; GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2 tại: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội trị giá thành tiền là 5.265.000.000 đồng. Chia thừa kế di sản của cụ Trương Văn L2 và cụ Phạm Thị T1 để lai theo pháp luật cho: Ông Trương Quang H, ông Trương Văn C, bà Trương Thị D, bà Trương Thị L1 và ông Trương Quang T; mỗi kỷ phần được hưởng trị giá bằng tiền là 1.053.000.000 đồng tương ứng 70,2m² đất tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 04; GCNQSDĐ số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trương Văn C, bà Trương Thị D và bà Trương Thị L1 tặng cho toàn bộ kỷ phần thừa kế mà các ông bà được nhận cho ông Trương Quang H được hưởng.
- Chia bằng hiện vật:
- Chia (Giao) cho ông Trương Quang T được quyền sử dụng 70,2m² và sở hữu các tài sản (Gian nhà tạm do chị Cao Thị H1 xây dụng) gắn liền trên diện tích 70,2m² đất được giao tại thửa số 75, tờ bản đồ số 04 thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội; giới hạn bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 2 trong sơ đồ kèm theo bản án.
- Buộc ông Trương Quang T phải thanh toán trả chị Cao Thị H1 số tiền 7.872.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong khoản tiền phải trả thì còn phải chịu lãi theo mức lãi suất 10%/năm (theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015) đối với số tiền chưa thi hành xong.
- Chia (Giao) cho ông Trương Quang H được quyền sử dụng 280,8 m² và sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 280,8m² đất được giao tại thửa số 75, tờ bản đồ số 04 thôn Đ, xã P, huyện Đ, Hà Nội; giới hạn bởi các điểm 2, 6, 7, 8, 9, 1, 2 trong sơ đồ kèm theo bản án.
- Buộc ông Trương Quang H phải tháo dỡ 01 cánh cổng sắt nằm trên phần đất thuộc sở hữu của ông Trương Quang T được chia (giao) tại điểm 3.1 khoản 3 Quyết định của bản án.
- Ông Trương Quang T, ông Trương Quang H có quyền nghĩa vụ chủ động đăng ký kê khai, xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản đối với phần tài sản được chia tại điểm 3.1; điểm 3.3 khoản 3 Quyết định của bản án.
- Khi có yêu cầu: Ông Trương Quang T có quyền, nghĩa vụ giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 636 ngày 10/12/1987 đứng tên cụ Trương Văn L2 cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc điều chỉnh lại tên chủ sử dụng đất theo khoản 4 Quyết định của bản án và theo quy định của pháp luật. Trường hợp ông T không giao hoặc không thể giao lại được thì Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại Điều 178 Luật thi hành án dân sự năm 2014 và Điều 28 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ hướng dẫn Luật thi hành án dân sự.
- Chấp nhận việc ông Trương Quang T xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 6 do ông Trương Văn C đang quản lý, sử dụng. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện mà ông Trương Quang T đã tự nguyện rút yêu cầu.
- Về án phí: Ông Trương Quang T và ông Trương Quang H được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Minh Hoàng |
Bản án số 210/2025/DS – PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 210/2025/DS – PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Trương Quang T Bị đơn: Trương Quang H
