TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 210/2025/DS-PT
Ngày 17-12 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng, bà Phạm Thị Chuyền
Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2025/TLPT-DS ngày 27/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025,Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 08/12/2025 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1977 và chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1965 (vắng mặt)
- Ông Lương Xuân V, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Bắc Ninh
*Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh, tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết với chị T1, anh T nên chị T1, anh T nhiều lần vay tiền của bà, các lần vay cụ thể như sau: Ngày 30/9/2018 vay 40.000.000 đồng; Ngày 29/11/2018 vay 150.000.000 đồng; Ngày 26/02/2019 vay 20.000.000đồng; Ngày 25/3/2019 vay 70.000.000 đồng; Ngày 07/7/2019 vay 100.000.000 đồng; Ngày 28/10/2019 vay 16.000.000 đồng; Ngày 16/11/2019 vay 50.000.000đồng;Ngày 25/11/2019 vay 160.000.000 đồng và 01 lần vay 30.000.000 đồng bà không nhớ ngày tháng, các khoản vay đều tính theo ngày lịch âm. Tổng cộng số tiền chị T1 anh T vay là 636.000.000đồng.
Khi vay hai bên thỏa thuận lãi xuất bằng lãi Ngân hàng. Đối với các khoản vay ngày 07/7/2019; ngày 28/10/2019 thì chị T1 đã trả cho bà nên bà đã gạch đi. Đối với khoản vay ngày 25/11/2019 chị T1 đã trả cho bà được 70.000.000 đồng còn nợ 90.000.000 đồng. Đến ngày 10/8/2020 (âm lịch) bà và chị T1 có lập giấy chốt các lần vay đầy đủ và chị T1 đã ký nhận từng lần vay, nhưng chị T1 vẫn không trả tiền cho bà. Ngày 04/9/2021(dương lịch) chị T1 và anh T có đặt vấn đề vay thêm tiền, thì bà có nói với chị T1, anh T những lần vay trước còn nợ tổng cộng là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) và hai bên có viết giấy biên nhận vay tiền thể hiện chị T1, anh T còn nợ là 450.000.000 đồng(Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Việc chị T1 trình bày ngày 12/9/2020 bà đi cùng vợ chồng chị T1 đến nhà anh Lương Văn V1 vay số tiền 500 triệu đồng (Năm trăm triệu đồng) là đúng. Sau khi anh V1 giao tiền cho chị T1, chị T1 đưa cho bà cầm hộ túi tiền nhưng chị T1 không trả bà số tiền này. Chị T1 cũng không có giấy biên nhận về việc đã trả số tiền này cho bà. Sau gần một năm ngày 04/9/2021 chị T1, anh T vẫn viết giấy biên nhận nợ và ký nhận nợ bà số tiền 450 triệu đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) nên việc chị T1, anh T nói đã trả số tiền vay của anh V1 cho bà là không có căn cứ. Ngày 04/9/2021 chị T1, anh T có hỏi vay thêm số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), hai bên có lập giấy tờ và ký nhận nhưng do bà không đủ tiền nên bà không giao tiền. Giấy vay này bà có giữ nhưng bà không kiện đòi khoản này, bà đã cung cấp bản gốc giấy vay tiền này cho Tòa án.
Nay bà yêu cầu chị T1, anh T phải trả bà số tiền gốc theo giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 là 450.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi 10%/năm kể từ ngày 04/9/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà đồng ý trừ cho chị H số tiền 80.000.000 đồng (T2 mươi triệu đồng) tiền phường vào số tiền lãi chị H phải trả cho bà.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Chị và bà H có quan hệ quen biết với nhau. Chị có vay tiền của bà H nhiều lần, khi vay thì không có giấy tờ, lãi suất thỏa thuận miệng 2.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Hàng tháng, chị thanh toán đầy đủ tiền lãi cho bà H nhưng không lập giấy tờ. Chị xác định 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 là đúng và chữ ký là của chị. Ngày 12/9/2020 vợ chồng chị đã cùng bà H đến nhà anh Lương Xuân V thế chấp sổ đỏ để vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Sau khi anh V giao tiền thì chị đã đưa cho bà H số tiền này để trả nợ cho bà H. Khi trả chị đưa cho bà Hoàn toàn B số tiền vay của anh V, không thực hiện việc kiểm đếm tiền và không viết giấy biên nhận.
Do chị đang cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình cho bà V2 Bộ nên chị có hỏi bà H vay số tiền là 300.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Bà H và chị có ngồi chốt lại với nhau số tiền nợ gốc chị còn nợ bà H là 150.000.000 đồng. Số tiền này chị vay của bà H thì chồng chị không biết, là khoản vay riêng của chị, không liên quan gì đến chồng chị.
Sau đó, bà H nói với chị bảo chồng xuống ký giấy thì sẽ cho vợ chồng chị vay thêm số tiền 300.000.000 đồng. Bà H yêu cầu vợ chồng chị phải ký vào giấy vay tiền số tiền vay là 450.000.000 đồng bao gồm cả 150.000.000 đồng chị nợ bà H trước đó thì bà H mới cho vay. Vợ chồng chị ký vào giấy biên nhận vay tiền nhưng không đọc nội dung của giấy biên nhận vay tiền 04/9/2021 dương lịch. Chị xác định chữ ký, chữ viết “T1, Nguyễn Thị T1” trong giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 dương lịch là chữ ký, chữ viết của chị. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng chị ký giấy biên nhận thì bà H không đưa cho vợ chồng chị số tiền 300.000.000 đồng như thỏa thuận ban đầu. Khi đó thì có người làm chứng là bà Nguyễn Thị C (chị chồng của bà H) và chồng bà H là ông Nguyễn Văn S khi đó cũng có có mặt ở nhà. Bà H có nói với vợ chồng chị phải lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình chị đưa cho bà H thì bà H mới giao số tiền 300.000.000 đồng. Do không nhận được tiền nên vợ chồng chị có yêu cầu bà H hủy giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 nhưng bà H không hủy. Tuy nhiên, vợ chồng chị không có báo gì với chính quyền địa phương về sự việc này.
Ngoài ra, chị có gửi bà H chơi 2 suất phường, mỗi suất là 2.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng, chị gửi bà H tiền phường 4.000.000 đồng/tháng. Chị gửi bà H chơi phường chơi thời gian nào thì chị không nhớ, chị chỉ nhớ chị gửi bà H đến tháng 7 năm 2021 là tổng cộng là 16 tháng, tổng số tiền phường chị đã đưa cho bà H là 64.000.000 đồng. Do khó khăn nên chị không chơi tiếp được nữa, chị có nói với bà H chơi tiếp giúp chị. Khi lấy phường thì trừ cho chị số tiền chị đã gửi chơi phường là 64.000.000 đồng vào số tiền chị còn nợ bà H là 150.000.000 đồng.
Chị có chơi phường với chị C1, cùng bán hàng ở chợ T3 cũ 01 suất phường, mỗi suất là 1.000.000 đồng/tháng, chơi từ thời gian nào chị không nhớ rõ. Chị chỉ nhớ là đã đóng cho chị C1 đến tháng 7 năm 2021 được 16 tháng, tổng số tiền chị đã đóng cho chị C1 là 16.000.000 đồng. Do kinh tế khó khăn chị không đóng được tiếp và chị có nói bà H tiếp tục đóng tiền phường cho chị C1 giúp chị. Khi lấy tiền phường thì bà H trừ số tiền chị đã đóng cho chị C1 là 16.000.000 đồng vào khoản tiền chị còn nợ bà H. Bà H và chị C1 khi đó đều đồng ý.
Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền gốc là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 10%/năm từ ngày 04/9/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm thì chị không đồng ý. Chị xác định còn nợ bà H 150.000.000 đồng và trừ đi 80.000.0000 đồng tiền phường chị còn nợ bà H số tiền là 70.000.000 đồng và đồng ý trả bà H số tiền còn nợ này. Tuy nhiên, do kinh tế gia đình chị khó khăn nên chị xin trả dần.
Bị đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:
Anh là chồng của anh Nguyễn Thị T1. Việc quan hệ giữa vợ anh và bà H như thế nào thì anh không biết, anh không quen biết gì với bà H. Việc vay mượn tiền của vợ anh với bà H thì anh không biết, anh không liên quan gì đến khoản vay này.
Do vợ chồng anh có nhu cầu vay số tiền 350.000.000 đồng để trả bà V2 Bộ lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về nên chị T1 có bảo anh xuống nhà bà H ký giấy thì sẽ cho vợ chồng anh vay số tiền 350.000.000 đồng. Chị T1 không nói với anh có nợ bà H số tiền 150.000.000 đồng trước đó. Bà H có đưa cho vợ chồng anh giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 dương lịch và nói vợ chồng anh ký vào giấy vay tiền đi rồi bà H sẽ đưa cho vợ chồng anh số tiền 350.000.000 đồng. Anh có ký vào giấy biên nhận vay tiền nhưng anh không đọc nội dung. Anh cứ nghĩ số tiền vay thể hiện trong giấy vay tiền là 350.000.000 đồng chứ không phải số tiền 450.000.000 đồng. Anh xác định chữ ký, chữ viết “T, Nguyễn Đình T” trong giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 dương lịch là chữ ký, chữ viết của anh.
Sau khi vợ chồng anh ký giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 thì bà H không đưa cho vợ chồng anh số tiền 350.000.000 đồng như thỏa thuận ban đầu. Bà H có nói với vợ chồng anh rằng phải lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh đưa cho bà H thì mới giao tiền. Do không nhận được tiền nên vợ chồng anh có yêu cầu bà H hủy giấy biên nhận vay tiền nhưng bà H không hủy giấy biên nhận vay tiền. Tuy nhiên, vợ chồng anh không báo với chính quyền địa phương. Nay bà H yêu cầu vợ chồng anh trả số tiền gốc là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 10%/năm kể từ ngày 04/9/2021 cho đến ngày xét xử thì anh không đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S trình bày:
Việc bà H cho chị T1, anh T vay tiền như nào ông không nắm được. Ngày 04/9/2021 chị T1, anh T có xuống nhà ông chốt nợ với bà H số tiền còn nợ là 450.000.000 đồng. Chị T1, anh T có đề nghị vay thêm số tiền 350.000.000 đồng nhưng ông không đồng ý và đã cản bà H không cho vay tiếp. Nay ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị Tòa án buộc chị T1, anh T trả cho vợ chồng ông số tiền còn nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị C trình bày:
Ngày 04/9/2021 bà có mặt ở nhà ông S, bà H và có chứng kiến bà H, ông S và chị T1, anh T viết giấy biên nhận số tiền còn nợ là 450.000.000 đồng và số tiền vay thêm là 350.000.000 đồng. Sau khi ký làm chứng xong thì bà về nhà. Sau đó bà H có giao cho chị T1, anh T số tiền vay thêm 350.000.000 đồng không thì bà không biết.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 288; Điều 463; Điều 466; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong đối với các khoản tiền mà bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Buộc chị T1 và anh T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.807.000 đồng; Hoàn trả bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.760.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00004308 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
Buộc chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Đình T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn S số tiền gốc là 450.000.000đồng và tiền lãi là 95.192.000 đồng. Tổng cộng là 545.192.000đồng (Năm trăm bốn mươi lăm triệu, một trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12/8/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T nộp đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướn bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về nợ gốc. Về tiền lãi, nguyên đơn đề nghị tính lãi 10%/năm kể từ ngày 04/9/2021 đến ngày 30/7/2025 nhưng chỉ yêu cầu tính lãi tròn năm tròn tháng, không tính ngày, đồng ý đối trừ 80.000.000 đồng tiền phường vào tiền lãi.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo, quan điểm đã trình bày tại Tòa án sơ thẩm, không đồng ý trả bà H số tiền 450.000.000đồng vì không có việc giao tiền ngày 04/9/2021. Ngày 12/9/2020 chị trả bà H số tiền 500.000.000đồng, khi trả không có giấy tờ gì nhưng bà H ghi xác nhận tại giấy vay nợ ngày 10/8/2020. Giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 không phải giấy chốt nợ, số tiền 450.000.000đồng ghi trong giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 sau khi ký giấy xong bà H không giao tiền cho chị, chị đã yêu cầu hủy nhưng bà H không hủy sau đó lại yêu cầu chị ký giấy biên nhận vay tiền lần 2 (cùng ngày 04/9/2021 – số tiền vay 350.000.000đồng). Mục đích chị vay tiền bà H để lấy vốn buôn bán phát triển kinh tế chung của gia đình.
Bị đơn anh Nguyễn Đình T giữ nguyên nội dung kháng cáo, quan điểm đã trình bày tại Tòa án sơ thẩm, không đồng ý trả bà H tiền gốc, tiền lãi. Toàn bộ khoản tiền vay theo 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 là của chị T1, anh T không được biết, không được nhận. Anh và chị T1 hiện là vợ chồng hợp pháp,mục đích chị T1 vay tiền bà H để lấy vốn buôn bán phát triển kinh tế chung của gia đình.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S giữ nguyên lời khai tại Tòa án sơ thẩm.
Người làm chứng anh Lương Xuân V trình bày: Anh có quan hệ quen biết làm ăn với chị T1, không có quan hệ gì với bà H, ông S. Ngày 12/9/2020 bà H có đi cùng chị T1 đến nhà anh để chị T1 vay anh số tiền 500.000.000đồng, anh có chứng kiến việc chị T1 trả tiền cho bà H, các bên không lập giấy tờ gì về việc trả tiền.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu:
Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
Về giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi số tiền vay nợ gốc. Về tiền lãi, nguyên đơn đề nghị tính lãi 10%/năm kể từ ngày 04/9/2021 đến ngày 30/7/2025 nhưng chỉ yêu cầu tính lãi tròn năm tròn tháng, không tính ngày là 03 năm 10 tháng và có đối trừ 80.000.000 đồng vào tiền lãi. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà H là có căn cứ, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị T1, anh T.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm về tiền lãi, không chấp nhận kháng cáo của chị T1, anh T. Cụ thể: tiền lãi là 172.350.000 đồng- 80.000.000 đồng = 92.350.000 đồng. Tiền gốc là 450.000.000 đồng. Tổng cộng bị đơn phải trả tổng số tiền là 542.350.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T, chị T1 liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.694.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị T1, anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người làm chứng là bà Nguyễn Thị C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T trả số tiền nợ gốc 450.000.000đồng, chứng cứ chứng minh là bản gốc giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 và 03 bản gốc giấy vay nợ cùng ghi ngày 10/8/2020.
- Theo trình bày của bà H thì giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 ghi số tiền vay 450.000.000đồng là chốt các khoản vay từ 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 và 01 khoản vay 30.000.000 đồng không có giấy tờ. Qúa trình giải quyết vụ án,chị T1 cũng thừa nhận 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 là đúng. Tuy nhiên, chị T1 cho rằng các khoản tiền vay theo 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 và khoản tiền vay 30.000.000đồng không có giấy tờ chị T1 đã trả 500.000.000đồng cho bà H vào ngày 12/9/2020 từ nguồn tiền vay của anh Lương Xuân V ngày 12/9/2020 nên chị còn nợ lại 150.000.000 đồng nhưng chị T1 không cung cấp được chứng cứ, giấy tờ về việc đã trả cho bà H số tiền 500.000.000đồng.Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T1 trình bày việc trả bà H số tiền 500.000.000đồng được bà H ghi xác nhận tại giấy vay nợ ngày 10/8/2020 là không có căn cứ vì trong giấy vay nợ ngày 10/8/2020 không có nội dung, chữ ký xác nhận của bà H về việc chị T1 trả 500.000.000đồng. Mặt khác, tổng số tiền chị T1 vay bà H theo 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 và 01 khoản vay 30.000.000đồng không có giấy tờ là 636.000.000 đồng nên nếu chị T1 trả bà H số tiền 500.000.000 đồng thì số tiền còn lại chị T1 nợ bà H không phải là 150.000.000đồng như chị T1 trình bày. Anh Lương Xuân V trình bày ngày 12/9/2021 chứng kiến việc chị T1 trả bà H số tiền 500.000.000đồng tuy nhiên anh V và chị T1 có mối quan hệ quen biết nên lời khai của anh V không khách quan.
- Tại cấp sơ thẩm, chị T1 cho rằng đối với giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 ghi số tiền vay 450.000.000đồng là giấy chốt số tiền 150.000.000 đồng chị còn nợ của 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2021 với số tiền 300.000.000 đồng vợ chồng chị vay thêm ngày 04/9/2021 nhưng bà H chưa giao tiền cho vợ chồng chị. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T1 thay đổi lời khai cho rằng giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 không phải giấy chốt nợ, số tiền 450.000.000đồng ghi trong giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 sau khi ký giấy xong bà H không giao tiền cho chị và cũng không hủy giấy đi, sau đó lại yêu cầu chị ký giấy biên nhận vay tiền lần 2 (cùng ngày 04/9/2021 – số tiền vay 350.000.000đồng) nhưng chị T1 không giải trình, đưa ra được căn cứ chứng minh ngoài lời trình bày. Bà H xác nhận ngày 04/9/2021 chị T1- anh T có ký giấy biên nhận vay bà H số tiền 350.000.000đồng nhưng bà H chưa giao tiền cho chị T1, anh T nên bà H không đòi khoản tiền này. Bà H cung cấp bản gốc giấy biên nhận vay tiền ghi ngày 04/9/2021 ghi số tiền vay 350.000.000đồng làm căn cứ chứng minh.
- Chị T1, anh T đều thừa nhận việc có ký vào giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 nhưng không cung cấp được giấy tờ, chứng cứ về việc đã trả tiền cho bà H. Anh T cho rằng anh không vay tiền của bà H và không liên quan đến khoản nợ chị T1 vay bà H theo 03 giấy vay nợ ngày 10/8/2020 nhưng ngày 04/9/2021 chị T1, anh T có đến nhà bà H và đều ký vào giấy vay tiền ngày 04/9/2021 nên xác định anh T biết được khoản nợ này. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm chị T1, anh T trình bày mục đích chị T1 vay tiền bà H để lấy vốn buôn bán phát triển kinh tế chung của gia đình. Do vậy, bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị T1, anh T phải có trách nhiệm trả tiền gốc đã vay là có căn cứ.
- Tại giấy biên nhận vay tiền ngày 04/9/2021 ghi thời hạn trả tháng 9/2024, lãi suất theo thỏa thuận. Qúa trình tham gia tố tụng các đương sự đều thừa nhận có thỏa thuận miệng về lãi suất (chị T1 khai lãi suất các bên thỏa thuận là 2.500đồng/1.000.000đồng/01 ngày, bà H khai lãi suất thỏa thuận bằng lãi suất ngân hàng) và có việc trả lãi nên xác định đây là hợp đồng vay có thời hạn và có lãi theo khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015. Bà H yêu cầu chị T1, anh T trả tiền lãi của số tiền vay 450.000.000 đồng, thời gian trả từ ngày 04/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng, 0,027%/ngày) là phù hợp khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Từ ngày 04/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2025 là 03 năm 10 tháng 25 ngày,bà H chỉ yêu cầu tính tròn năm, tròn tháng, không tính ngày. Số tiền lãi của 03 năm là 450.000.000đồng x 10% năm x 03 năm = 1 35.000.000 đồng. Số tiền lãi của 10 tháng là:450.000.000đồng x 0,83%/tháng x 10 tháng =37.350.000 đồng.
- Qúa trình giải quyết vụ án, chị T1, bà H đều thống nhất trình bày chị T1 chơi phường với bà H và có đóng cho bà H 80.000.000 đồng, chị T1 đề nghị trừ vào số tiền còn nợ bà H. Bà H đồng ý trừ số tiền phường 80.000.000 đồng vào số tiền lãi chị T1, anh T phải trả nên cần chấp nhận. Do vậy, số tiền lãi chị T1, anh T còn phải trả là 172.350.000đồng – 80.000.000đồng = 92.350.000đồng.
- Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ mới, bản án sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền nợ gốc, nợ lãi là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Tuy nhiên, do tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tính tròn năm, tròn tháng, không yêu cầu tính ngày, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm nên Hội đồng xét xử cần sửa bản án sơ thẩm về số tiền lãi bị đơn phải trả nguyên đơn như phân tích nêu trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 542.350.000đồng nợ gốc, nợ lãi phải trả bà Nguyễn Thị H theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Số tiền án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T phải chịu cụ thể như sau: 20.000.000đồng + 4% x (542.350.000đồng - 400.000.000 đồng) =25.694.000đồng. Hoàn trả bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
*Xét kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh (do phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T phải liên đới chịu 25.694.000 đồngán phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.760.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00004308 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2- Bắc Ninh).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Đình T mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lại thu tiền số 0000089 ngày 12/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 288; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 470; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 2 Điều 26;khoản 2 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Đình T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn S số tiền gốc là 450.000.000đồng và tiền lãi là 92.350.000đồng. Tổng cộng là 542.350.000đồng (Năm trăm bốn mươi hai triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong đối với các khoản tiền mà bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 210/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 210/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản vụ H-T
