Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 210/2025/DS-PT

Ngày 15-4-2025

V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thế Hồng

Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLPT-DS ngày 14/02/2025 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2024/DS-ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 902/2025/QĐ-PT ngày 10/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết)

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

    1. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1958
    2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1979
    3. Anh Phạm Duy T1, sinh năm 1982
    4. Anh Phạm Duy H, sinh năm 1983
    5. Anh Phạm Duy K, sinh năm 1986 (vắng mặt)
    6. Anh Phạm Thế T2, sinh năm 1988

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    1. Chị Phạm Thị L, sinh năm 1977

    Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973 (có mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1954

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1977 (có mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1954 (có mặt)
    2. Anh Phạm Văn S, sinh năm 1976 (có mặt)
    3. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1977 (có mặt)
    4. Anh Phạm Văn X, sinh năm 1983 (có mặt)
    5. Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1987 (có mặt)
    6. Anh Phạm Văn T5, sinh năm 1989 (vắng mặt)
    7. Anh Phạm Văn T6, sinh năm 1993 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    1. Chị Phạm Thị D, sinh năm 1981(vắng mặt);

    Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé B và trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:

Cụ Nguyễn Văn N1 và cụ Lê Thị C có 02 người con là bà Nguyễn Thị Bé H1 và bà Nguyễn Thị Bé B. Cụ N1 chết năm 2010, đến năm 2016 cụ C chết. Sinh thời hai cụ tạo lập được phần đất thuộc các thửa 1386, 1387 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.980m²; thửa 1369, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.185m²; thửa 1368, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.400m² và thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư), tọa lạc ở ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Thửa 1386, 1387 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.980m² và thửa 1369 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.185m² gia đình thống nhất để cho ông Phạm Văn H2 và bà Nguyễn Thị Bé H1 được trọn quyền sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998.

Thửa 1368, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.400m² và thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) được Ủy ban nhân dân huyện M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Nguyễn Văn N1.

Năm 2013, cụ C và chị em bà Bé B thống nhất đến Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản phân chia tài sản thừa kế. Theo biên bản phân chia tài sản ngày 29/3/2013, tài sản được phân chia như sau:

Phần đất thứ nhất: Thửa 1386, 1387 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.980m² và thửa 1369, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.185m² thống nhất để cho ông Phạm Văn H2 và bà Nguyễn Thị Bé H1 được trọn quyền sử dụng.

Phần đất thứ hai: Thửa 1368, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.400m² thống nhất cho anh Phạm Văn S (con ông H2 và bà Bé H1) được trọn quyền sử dụng.

Phần đất thứ ba: Thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư), trên đất có căn nhà tường cấp 4 do cụ N1, cụ C xây cất. Phần đất này thống nhất cho bà B được trọn quyền sử dụng. Đất có tứ cận giáp bà Nguyễn Thị N2, ông Trần Văn T7, rạch và ông Phạm Văn H2. Cây trồng trên đất có dừa, mai, chuối do cụ N1, cụ C.

Cụ N1 không để lại di chúc được do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị gia đình bà Bé H1 thế chấp để vay tiền ngân hàng. Cụ C, bà Bé H1 và bà B2 Ba thống nhất phân chia như tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 nêu trên. Việc Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản hòa giải này là do bà B có tranh chấp yêu cầu chia thừa kế phần đất của cụ N1 để lại. Ban đầu tổ chức hòa giải ở ấp T nhưng bà B2 Ba không đồng ý nên chuyển đến Ủy ban nhân dân xã T tổ chức hòa giải. Kết quả hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T như sau: Phần của bà B được hưởng do cụ C còn sống nên bà và anh S đồng ý để cho cụ C hưởng đến khi cụ C chết bà B với anh S mới nhận đất.

Ngày 18/12/2016, cụ C chết. Bà B yêu cầu bà Bé H1 ký tên để bà làm thủ tục nhận phần đất được hưởng theo biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 nhưng bà Bé H1 không đồng ý ký tên và không giao đất. Toàn bộ phần đất nêu trên hiện nay do bà Bé H1 và anh S đang quản lý, sử dụng. Khi cụ N1, cụ C còn sống, nhà và đất đang tranh chấp do hai cụ và anh S trực tiếp quản lý, sử dụng. Sau khi hai cụ chết thì anh S quản lý, sinh sống trên phần đất này. Khoảng 02 năm trở lại đây, anh S vỡ nợ bỏ địa phương đi nên đất và nhà đang tranh chấp do bà Bé H1, ông H2 và anh X, chị N quản lý, sử dụng.

Do đó, bà B2 Ba yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được nhận phần đất có diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) và căn nhà có diện tích 120m² (theo đo đạc thực tế có diện tích 158,12m², gồm nhà trước, nhà sau và hàng rào trụ bê tông chôn) thuộc thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1. Qua đo đạc thực tế thuộc một phần thửa 72, tờ bản đồ 3, diện tích 3.465,8m², gồm các phần có kí hiệu 72A diện tích 3.451,8m² và 72B diện tích 14m²). Còn phần có kí hiệu 72C diện tích 50,4m² do bà Bé H1 và bà Bé B đã thống nhất ranh với chủ sử dụng đất thửa 74 (3) khi đo đạc nên đồng ý trừ phần diện tích này ra khỏi di sản thừa kế để giải quyết.

Đối với phần đất có diện tích 1.400m² thuộc thửa số 1368, tờ bản đồ số 1 (thửa mới là thửa 40 (3) diện tích đo đạc thực tế là 1.000,7m²) bà Bé B đồng ý chia cho anh Phạm Văn S được trọn quyền sử dụng.

Đối với các phần đất thuộc thửa 1386, 1387 và thửa 1369, tờ bản đồ số 01, ông H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà B2 Ba không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với 03 thửa đất này.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Bé B cho bà B2 Ba được hưởng căn nhà đang tranh chấp nêu trên thì bà Bé H1 vẫn có chỗ ở khác. Bà Bé H1 có căn nhà khác ở kế bên phần đất đang tranh chấp để ở. Căn nhà đang tranh chấp thực tế bà Bé H1 đang quản lý.

Tại Đơn khởi kiện ngày 21/4/2023, bà B yêu cầu chia tài sản chung theo biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre là không đúng. Do đó, bà Bé B thay đổi yêu cầu khởi kiện là chia thừa kế quyền sử dụng đất.

Ngày 08/02/2024, bà Bé B chết. Tại Đơn yêu cầu giải quyết ngày 19/3/2024, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà B yêu cầu Toà án giải quyết vụ kiện theo yêu cầu nêu trên của bà Bé B.

Đối với cây trồng, dừa trên 40 năm tuổi số lượng 29 cây là của cụ C và cụ N1 trồng; các cây trồng còn lại là của bà Bé H1 và ông H2 trồng. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Bé B, người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B đồng ý hoàn trả giá trị cây trồng trên đất còn lại cho bà B2 H1 và ông H2. Đối với cát bơm, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà B2 Ba không đồng ý bà Bé H1 bơm cát trên đất 210m³, chỉ đồng ý hoàn trả giá trị 70m³ cát cho bà Bé H1 với giá của Hội đồng định giá huyện Mỏ Cày B1 đã định. Đối với căn nhà trên đất đang tranh chấp là của cụ C và cụ N1, nhà có sửa một lần nhưng chi phí là của em cụ C cho 10.000.000 đồng để sửa không phải tiền của ông H2, bà Bé H1.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H1 trình bày:

Lời trình bày của bà B2 Ba về cha mẹ, các con của cụ N1 và cụ C, tài sản của cụ N1 và cụ C để lại là đúng.

Tuy nhiên, thửa 1386, 1387 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.980m²; thửa 1369, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.185m² cụ N1 và cụ C đã cho ông Phạm Văn H2 và bà được trọn quyền sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998. Lý do vợ chồng bà được cho phần đất này là vì năm 1993 cụ N1, cụ C mắc nợ người khác, vợ chồng bà đã trả nợ thay số tiền 4.000.000 đồng. Bà B2 Ba không tranh chấp phần đất này bà đồng ý.

Còn phần đất thửa 1368, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.400m²; thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) được Ủy ban nhân dân huyện M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Nguyễn Văn N1 hiện nay do bà, ông H2, anh S quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Cha mẹ bà sinh sống trên đất nhưng người trực tiếp canh tác là bà vì lúc này cụ C, cụ N1 đã lớn tuổi không canh tác được. Việc canh tác, quản lý, gìn giữ và nuôi dưỡng cha mẹ do bà lo. Bà H1 bắt đầu quản lý, canh tác đất ruộng từ năm 1992, đất vườn từ năm 1976 đến nay nhưng không có giấy tờ.

Biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T không phải là văn bản phân chia tài sản như bà B2 Ba trình bày mà là biên bản hòa giải khi giải quyết tranh chấp giữa bà Bé B với bà. Bà không đồng ý nội dung việc phân chia của biên bản hòa giải ngày 29/3/2013. Trong biên bản hòa giải có nội dung: “Hòa giải thành. Các đương sự thống nhất theo nội dung trên và cam kết thực hiện” là để cho cụ C được hưởng hoa lợi trên đất đến cuối đời còn nội dung chia đất từng phần cho từng người không có hiệu lực. Khi kết thúc biên bản, Ủy ban nhân dân xã có đọc lại cho bà, bà Bé B và cụ C nghe. Bà không đồng ý việc phân chia từ đoạn “Qua phân tích động viên ... Phạm Văn S (con Bé Hai) được quyền sử dụng thửa 1368 tờ 1, diện tích 1.400m² nhưng vẫn để cho ngoại hưởng huê lợi trên đất đến hết đời”, lúc này ông H3, cán bộ xã T nói bà vì cụ C mà ký tên để cho cụ C được hưởng hoa lợi trên đất đến hết đời nên bà ký tên. Ông H2, anh S không đồng ý nên không ký tên. Phần đất bà được phân chia và được cấp quyền sử dụng đất nên hưởng, còn phần còn lại là phần đang tranh chấp bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Bé B.

Phần đất thuộc thửa số 1368, tờ bản đồ số 1 diện tích 1.400m² (thửa mới là thửa 40 (3) diện tích đo đạc thực tế 1.000,7m²) bà đồng ý chia cho anh Phạm Văn S được trọn quyền sử dụng.

Phần đất thuộc thửa 1388, 1389, tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) (thửa mới là một phần thửa 72 (3) diện tích là 3.465,8m², gồm các phần có kí hiệu 72A diện tích 3.451,8m² và 72B diện tích là 14m²) là của cụ N1 và cụ C để lại cho bà nên bà yêu cầu được hưởng, không đồng ý chia mà để cúng giỗ cha mẹ, ông bà.

Phần có kí hiệu 72C diện tích 50,4m² do bà và bà Bé B đã thống nhất ranh với chủ sử dụng đất thửa 74 (3) khi đo đạc nên đồng ý trừ phần diện tích này ra khỏi di sản thừa kế để giải quyết.

Hiện nay, bà không có ở tại căn nhà đang tranh chấp mà có nhà khác để ở. Đối với căn nhà là của cụ N1 để lại hiện nay do anh Phạm Văn X đang quản lý và sinh sống tại căn nhà này. Đối với chuồng gà, chuồng chó, hàng rào trụ gỗ có khả năng di dời nên đồng ý di dời nếu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Đối với cây trồng trên đất do bà và ông H2 trồng, không phải do cụ N1, cụ C trồng. Thực tế, ông H2 và bà là người trực tiếp canh tác trên đất nên là người trồng cây. Cụ C và cụ N1 do bị tù đày và tai nạn chiến tranh nên không đủ sức khỏe để canh tác trên đất. Tuy nhiên, nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì bà đồng ý cây trồng trên đất chia cho ai người đó hưởng, không hoàn trả lại giá trị. Riêng cây kiểng trồng ngoài đất và trồng trong chậu của anh X thì anh X tự di dời.

Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H2 trình bày:

Khoảng năm 1990, sau khi rã tập đoàn cụ N1 và cụ C có cho bà B2 Ba 03 công đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bé B. Trước khi cụ N1 chết có căn dặn ông cho thêm bà B2 Ba 01 công ruộng nhưng chỉ nói miệng không có giấy tờ. Nếu chia đất, ông đồng ý chia cho bà B2 Ba 01 công ruộng thuộc thửa 1368, tờ bản đồ số 1 diện tích 1.400m² hiện nay anh S đang quản lý nhưng bà Bé H1 không đồng ý.

Ông thống nhất với trình bày của bà Bé H1. Trường hợp Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, ông không yêu cầu giải quyết về công sức đóng góp của riêng ông trên đất mà chỉ đề nghị Tòa án cân nhắc vợ chồng ông có công quản lý, trực tiếp canh tác, tôn tạo, gìn giữ đất để chia cho bà B2 Hai phần nhiều hơn.

Trong quá trình tố tụng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các anh Phạm Văn X, Phạm Văn T4, Phạm Văn T5 và Phạm Văn T6 trình bày:

Các anh thống nhất với lời trình bày trên đây của bà H1. Đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ ông bà để lại cho cụ Nguyễn Văn N1. Nhưng năm 1998, Ủy ban nhân dân huyện M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất đang tranh chấp cho hộ cụ N1. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ cụ N1 có 11 người như tại Công văn số 34 ngày 14/3/2022 của Công an huyện M cung cấp cho Tòa án nên đất này là đất của hộ gồm các thành viên nêu trên. Tại thời điểm năm 1998, các anh còn nhỏ và còn đi học chỉ đi theo cụ N1 để tát mương, múc nước. Mặc dù là đất cấp cho hộ nhưng là di sản của cụ N1 để lại nên bà Bé H1 được hưởng phần đất này, các anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị N trình bày:

Chị đồng ý với lời trình bày các anh Phạm Văn X, Phạm Văn T4, Phạm Văn T5 và Phạm Văn T6.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị D trình bày:

Năm 2008, chị lấy chồng và đã cắt hộ khẩu từ ấp T, xã T về ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Ngày 29/3/2013, tại xã T có hoà giải phân chia tài sản thừa kế giữa bà Bé H1 với bà B2 Ba nhưng chị không có tham dự. Chị xác nhận chị không có tranh chấp và không liên quan đến việc phân chia tài sản là quyền sử dụng phần đất có diện tích 4.465m², toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé H1; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị D có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; anh Phạm Duy K, anh Phạm Văn T5 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt chị D, anh K, anh T5.

[2] Về nội dung:

[2.1] Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 3.465,8m², gồm các phần có kí hiệu 72A diện tích 3.451,8m² và 72B diện tích 14m², thuộc một phần thửa 72, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Các phần đất này có số thửa cũ là thửa 1388 và 1389, tờ bản đồ số 1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Nguyễn Văn N1. Gia đình bị đơn bà Bé H1 là người đang quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp.

Nguyên đơn bà Bé B cho rằng sau khi cụ N1 chết, giữa bà với cụ C và bà Bé H1 đã thỏa thuận phân chia tài sản, phần của bà được chia là phần đất hiện đang tranh chấp nên yêu cầu bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giao đất theo nội dung thỏa thuận. Trong khi đó, bị đơn bà Bé H1 không thừa nhận nội dung thỏa thuận, đồng thời cho rằng cụ N1, cụ C để lại phần đất tranh chấp cho bà quản lý, sử dụng để thờ cúng ông bà nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2] Các đương sự trình bày thống nhất cha mẹ của bà Bé H1, Bé B là cụ Nguyễn Văn N1 và cụ Lê Thị C. Hai cụ chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ chỉ có bà Bé H1 và bà Bé B. Di sản của cụ N1 và cụ C để lại là quyền sử dụng đất thuộc các thửa 1386, 1387 và thửa 1369, tờ bản đồ số 01 có diện tích 5.167m² đã chia cho bà Bé H1 và ông H2 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) các bên không có tranh chấp; thửa số 1368, tờ bản đồ số 1 diện tích 1.400m² (thửa mới là thửa 40, tờ bản đồ số 3, diện tích đo đạc thực tế là 1.000,7m²) các bên thống nhất để lại cho anh Phạm Văn S, không có tranh chấp; thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1, diện tích 3.065m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) (thửa mới là một phần thửa 72, tờ bản đồ số 3, diện tích là 3.465,8m², gồm các phần có kí hiệu 72A diện tích 3.451,8m², 72B diện tích là 14m²) và căn nhà trên đất các bên đang tranh chấp. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

“Biên bản hòa giải” ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T có nội dung “Qua phân tích động viên, cuối cùng những người tham dự hòa giải thống nhất: ông H2, bà Bé H1 được trọn quyền sử dụng các thửa đất 1386, 1387, tờ 1 diện tích 2.980m² (nhưng vẫn để cho mẹ hưởng huê lợi trên đất) và thửa 1369, tờ 1 diện tích 2.185m². Bà Bé Ba được quyền sử dụng thửa 1388, 1389, tờ 1 diện tích 2.765m² + 300m² nhưng vẫn để cho mẹ được hưởng huê lợi hết đời. Phạm Văn S (con bà Bé H1) được quyền sử dụng thửa 1368, tờ 1 diện tích 1.400m² nhưng để cho ngoại hưởng huê lợi trên đất hết đời. Kết quả hòa giải: Hòa giải thành. Các đương sự thống nhất theo nội dung trên và cam kết thực hiện”. Trong quá trình tố tụng, bà Bé H1 cho rằng bà ký tên để cho cụ C được hưởng hoa lợi trên đất nhưng không có chứng cứ chứng minh. Như vậy, có căn cứ xác định bà B2 H1 đồng ý những nội dung đã nêu trên và có ký tên vào “Biên bản hòa giải” ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T.

[2.4] Như vậy, sau khi cụ N1 chết thì những người tham gia hòa giải để phân chia di sản của cụ N1 tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T có cụ C, bà Bé H1 và bà Bé B, ông H2 - chồng bà Bé H1 và anh S - con bà Bé H1. Trong biên bản này, ông H2 và anh S không ký tên vào biên bản nhưng như đã nêu, hàng thừa kế thứ nhất của cụ N1 là cụ C, bà Bé H1 và bà Bé B, cả 03 người trong hàng thừa kế đã đồng ý thống nhất việc phân chia tài sản thừa kế và có ký tên, điểm chỉ vào biên bản. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Bé H1, ông H2 và các con của ông H2, bà Bé H1 đều xác định phần đất thuộc các thửa 1386, 1387 và thửa 1369, tờ bản đồ số 01 có diện tích 5.167m² tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T đã bán và chia cho bà Nguyễn Thị Bé H1 và ông Phạm Văn H2 trọn quyền sử dụng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H2. Đồng thời, anh S đã thực hiện một phần thỏa thuận theo biên bản ngày 29/3/2013 là anh S đã vào quản lý sử dụng phần đất thửa số 1368, tờ bản đồ số 1 diện tích 1.400m² theo sự thừa nhận của anh S, chị N3. Từ đó cho thấy, một phần nội dung của việc phân chia tài sản thừa kế được ghi nhận tại Biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T đã được thực hiện. Vì vậy, có cơ sở xác định biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T có giá trị để thi hành cho phần chia di sản còn lại. Do đó, yêu cầu chia thừa kế của bà B2 Ba là có căn cứ nên được chấp nhận. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bé B là phù hợp.

Đối với phần thừa kế anh S được hưởng, do anh S không có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất này, bà Bé B cũng không tranh chấp thửa 1368, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.400m² (thửa mới là thửa 40, tờ bản đồ số 3, diện tích đo đạc thực tế là 1.000,7m²) nên không xem xét giải quyết và tạm giao cho bà B2 Hai quản lý.

Đối với phần đất có kí hiệu 72C, diện tích 50,4m² do bà Bé H1 và bà Bé B đã thống nhất ranh với chủ sử dụng đất thửa 74, tờ bản đồ số 3 khi đo đạc nên đồng ý trừ phần diện tích này ra khỏi di sản thừa kế nên không xem xét giải quyết.

[2.5] Đối với căn nhà (gồm nhà chính và nhà sau) các đương sự trình bày thống nhất là của cụ N1 và cụ C. Ông H2, bà Bé H1 cho rằng ông bà có tu sửa lại nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do ông H2, bà Bé H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh sửa nhà nên không có căn cứ xem xét lời trình bày của ông H2, bà Bé H1. Các công trình kiến trúc còn lại, các đương sự thống nhất là của bà Bé H1. Bà B2 Ba yêu cầu được hưởng căn nhà trên đất. Tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2013 của Ủy ban nhân dân xã T không có nội dung nào phân chia căn nhà cho bà B2 Ba nên cần xác định căn nhà này là phần di sản của cụ N1 và cụ C chưa chia. Cụ N1, cụ C chết không để lại di chúc nên cần chia thừa kế căn nhà này theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cụ N1 và cụ C là bà Bé H1 và bà B2 Ba nên chia thành 02 kỷ phần. Do phần đất thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1 (thửa mới là một phần thửa 72, tờ bản đồ số 3) bà Bé B được hưởng nên bà B2 Ba được nhận toàn bộ căn nhà nêu trên và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B có trách nhiệm hoàn trả ½ giá trị căn nhà là 81.418.500 đồng cho bà Bé H1.

Ngoài ra, trên đất còn có 01 chuồng chó, 01 chuồng gà và hàng rào trụ gỗ, khung bằng lưới nhựa, 08 trụ bê tông cốt thép của gia đình bà Bé H1 có khả năng di dời nên buộc bà Bé H1 và gia đình bà Bé H1 phải di dời để giao đất cho bà B2 Ba. Đối với hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40 có giá 3.298.000 đồng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà B2 Ba phải hoàn trả giá trị lại cho bà Bé H1 là số tiền 3.298.000 đồng. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B được quyền sở hữu hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40 diện tích 19,18m².

Trên đất còn có cát bơm, bà Bé B xác định cát là của bà Bé H1 bơm nhưng không xác định bao nhiêu khối. Bà Bé H1 cho rằng cát bơm trên đất là 210m³ nhưng không có chứng cứ chứng minh. Bà T3 tự nguyện bồi hoàn cho bà B2 Hai số cát là 70m³ và đồng ý hoàn trả lại giá trị của 70m³ cát này theo giá Hội đồng định giá có giá 200.000 đồng/m³ x 70m³ = 14.000.000 đồng.

Đối với Cây trồng trên đất đang tranh chấp đại diện nguyên đơn, bị đơn xác định cây trồng trên đất tranh chấp trong đó có 57 cây dừa trên 06 năm tuổi thì có 29 cây trên 40 năm tuổi. Căn cứ vào thời gian sinh sống quản lý đất thì có cơ sở xác định 29 cây dừa trên 40 năm tuổi này do cụ N1, cụ C trồng nên cần khấu trừ giá trị 29 cây dừa trên 40 năm tuổi khi buộc nghĩa vụ bồi hoàn của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B. Cụ thể buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà B2 Ba hoàn trả giá trị cây trồng còn lại gồm 28 cây dừa từ 06 năm tuổi trở lên và các cây trồng khác trên đất cho bà B2 H1 và ông H2 với tổng giá trị là 66.011.000 đồng. Do đó, buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B hoàn trả giá trị cây trồng cho bà B2 H1 và ông H2 số tiền 66.011.000 đồng và được quyền sở hữu các cây trồng trên đất nêu trên.

Bà Bé H1, ông H2 và các con của bà Bé H1, ông H2 có trách nhiệm di dời 10 chậu kiểng và 17 cây kiểng trồng ngoài đất để giao trả đất cho bà Bé B, do người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Bé B đại diện nhận.

Ông H2 yêu cầu hoàn trả lại công sức đóng góp của ông H2 trên đất tranh chấp, xét thấy ông H2 về sinh sống cùng bà Bé H1 canh tác đất thu huê lợi trên đã có sẵn đất cùng làm cùng ăn, hơn nữa công sức đóng góp của ông H2 cũng được cụ N1, cụ C cho riêng phần đất theo sự thừa nhận tại biên bản ngày 29/3/2013. Do đó, không có căn cứ xem xét lời trình bày này của ông H2.

Từ những nhận định trên, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không được chấp nhận.

[3] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Bé H1 phải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên, bà Bé H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé H1;

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 120/2024/DS-ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Áp dụng Điều 649, 652 Bộ luật Dân sự; khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L) được chia phần đất thuộc thửa 1388, 1389 tờ bản đồ số 1 diện tích 2.765m² + 300m² (thửa mới là một phần thửa 72, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.465,8m², được ký hiệu trên họa đồ hiện trạng sử dụng đất là 72A diện tích 3.451,8m² và 72B diện tích 14m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L) có trách nhiệm hoàn trả ½ giá trị căn nhà cho bà Nguyễn Thị Bé H1 với số tiền là 81.418.500đ (Tám mươi mốt triệu bốn trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L) có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bé H1, ông Phạm Văn H2 giá trị công trình kiến trúc trên đất là hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40, diện tích 19,18m² với số tiền là 3.298.000₫ (Ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng); giá trị cây trồng trên đất số tiền là 66.011.000₫ (Sáu mươi sáu triệu không trăm mười một nghìn đồng) và tiền bơm cát là 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng). Tổng số tiền phải hoàn trả là 83.309.000đ (Tám mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L) được quyền sở hữu 01 (một) nhà (nhà chính) một tầng cột gỗ tạp, vách gỗ tạp, cột viền bên ngoài là cột bê tông cốt thép, nền lót gạch tàu, mái lợp tôn fibrôximăng, diện tích 79,05m²; 01 (một) nhà sau nhà một tầng cột gỗ tạp, vách gỗ tạp, nền đất, mái lợp lá, diện tích 59,89m²; hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40, diện tích 19,18m², tọa lạc trên phần đất thuộc thửa 1388, 1389, tờ bản đồ số 1 (thửa mới là một phần thửa 7, tờ bản đồ số 3, được ký hiệu trên họa đồ hiện trạng sử dụng đất là 72A và 72B), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre và cây trồng trên đất.
    • - Buộc bà Nguyễn Thị Bé H1, ông Phạm Văn H2, anh Phạm Văn S, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn X, Phạm Văn T4, Phạm Văn T5, Phạm Văn T6 phải di dời vật dụng trong nhà; 01 (một) chuồng chó cột gỗ, vách gỗ, mái lợp lá, diện tích 01m²; 01 (một) chuồng gà cột gỗ, mái lợp lá, không vách diện tích 09m²; 08 (tám) trụ bê tông cốt thép thành phẩm thể tích 1,152m³; hàng rào trụ gỗ, khung bằng lưới nhựa diện tích 49,6m²; 10 (mười) chậu kiểng và 17 (mười bảy) cây kiểng trồng ngoài đất ra khỏi nhà và đất thuộc thửa 1388, 1389, tờ bản đồ số 1 (thửa mới là một phần thửa 7, tờ bản đồ số 3, được ký hiệu trên họa đồ hiện trạng sử dụng đất là 72A và 72B), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre để giao nhà và đất cho bà Nguyễn Thị Bé B (đã chết, có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L).
    • - Tạm giao cho bà Nguyễn Thị Bé H1 quản lý thửa đất số 1368, tờ bản đồ số 1 diện tích 1.400m² (thửa mới là thửa 40, tờ bản đồ số 3, diện tích đo đạc thực tế là 1.000,7m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre là phần thừa kế được chia cho anh Phạm Văn S (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

    Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án này.

  2. Không chấp nhận yêu cầu hoàn trả công sức đóng góp của ông Phạm Văn H2 trên đất tranh chấp.
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L phải chịu là 8.847.000₫ (Tám triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng), đã nộp xong.
  5. Về án phí:
    • [5.1] Án phí sơ thẩm:
    • Buộc ông Phạm Văn M, anh Phạm Văn T, anh Phạm Duy T1, anh Phạm Duy H, anh Phạm Duy K, anh Phạm Thế T2, chị Phạm Thị L phải liên đới chịu án phí với số tiền là 50.833.000đ (Năm mươi triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

    • [5.2] Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bé H1 được miễn.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 210/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ BÉ B TRANH CHẤP THỪA KẾ VỚI NGUYỄN THỊ BÉ H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger