Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/HS-ST

Ngày: 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Soan.
  2. Bà Lê Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Minh T, sinh năm: 1985, tại: Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: tài xế xe công nghệ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Đoàn Văn C và bà Trần Thị N (đã chết); Có vợ tên Đặng Thị Kim T1 và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 22/4/2024; (Có mặt).

Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1995; HKTT: thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: 148/40 Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần D; địa chỉ: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tòa V, đường C, khu đô thị V, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội. Đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1987; địa chỉ: P Tòa nhà A T, N, Cầu G, Hà Nội; (Vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Huy M, sinh năm 1983; HKTT: 2 H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  3. Ông Trương Công N1, sinh năm 1987; HKTT: A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  4. Bà Đặng Thị Kim T1, sinh năm 1988; HKTT: 621/16/9 Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, Đoàn Minh T là tài xế chạy xe ôm Công nghệ Xanh GSM có đến quán C1 địa chỉ: 1 Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Trần Thị H làm chủ để uống cà phê và đợi khách hàng. Một lúc sau, T đi vệ sinh phía sau quán có đi ngang qua phòng ngủ không khóa cửa, T nhìn vào phía trong thì thấy có 01 chiếc điện thoại Iphone 15 promax màu trắng đang cắm sạc để trên nệm không có người trông coi nên T lấy chiếc điện thoại Iphone 15 promax 256 GB màu trắng, T còn nhìn thấy trên bàn có để 01 túi xách nên T mở ra xem, nhưng không thấy tài sản gì nên T đi ra khỏi phòng, đi lên trước quán tính tiền rồi rời đi.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T liên hệ với Trương Công N1 để bán điện thoại. T nói với N1 là điện thoại nhặt được ngoài đường rơi bể màn hình với giá 9.000.000 đồng, N1 đồng ý mua. Sau khi bán được 9.000.000 đồng thì T đưa cho vợ là chị Đặng Thị Kim T1 4.000.000 đồng để trả tiền trọ, khi đưa thì T không nói cho chị T1 biết nguồn gốc số tiền trên, còn 5.000.000 đồng thì T gửi vào tài khoản ngân hàng cá nhân. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trương Công N1 bán lại điện thoại trên cho Nguyễn Huy M với giá 13.800.000 đồng. Khi bán máy cho M thì N1 cũng nói là điện thoại do lượm được nên M hoàn toàn không biết đây là điện thoại do trộm cắp mà có.

Cùng ngày, sau khi phát hiện bị mất điện thoại, bà Trần Thị H đã kiểm tra camera phòng thấy sự việc và đi trình báo Công an P, quận G. Đến khoảng 20 giờ ngày 19/4/2024, khi T đang đi làm tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an P, quận G mời về trụ sở Công an P, quận G làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax 256Gb và 01 sim số 8984048000908459759 (là sim ban đầu gắn vào điện thoại di động Iphone 15 Promax) do Nguyễn Huy M giao nộp. Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G xác định: chiếc điện thoại hiệu Iphone 15 promax 256 GB màu trắng (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 19/4/2024 có giá 23.166.667 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho người bị hại bà Trần Thị Hoài . Bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, khiếu nại gì.
  • 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 thu giữ của Đoàn Minh T, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho vợ của T là bà Đặng Thị Kim T1.
  • 01 xe máy điện hiệu EVO 200 Vinfast biển số: 61C4-06487, thuộc sở hữu của Công ty cổ phần D và thông minh GMS, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho Công ty cổ phần D và thông minh GMS. Công ty cổ phần D và thông minh GMS đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, khiếu nại gì.
  • 01 USB chứa video thể hiện Đoàn Minh T thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 19/4/2024, tại 148/40 đường số E, Phường A, quận G do bà Trần Thị H cung cấp (lưu kèm theo hồ sơ vụ án).

Trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại bà Trần Thị H đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax 256Gb và 01 sim số 8984048000908459759 nên không có yêu cầu gì nữa.
  • Ông Nguyễn Huy M đã giao nộp lại 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax 256Gb do bị cáo chiếm đoạt được cho Cơ quan điều tra. Ông N1 đã bồi thường lại cho ông M số tiền 13.800.000 đồng. Bà Đặng Thị Kim T1 đã bồi thường lại cho ông N1 số tiền 9.000.000 đồng. Ông M và ông N1 hiện không thắc mắc, khiếu nại gì. Bà Đặng Thị Kim T1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho ông N1 và đồng ý cho luôn bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 204/CT-VKS-GV, ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Đoàn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T từ 9 tháng đến 01 năm tù.
  • Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa video thể hiện bị cáo thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 19/4/2024.

Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày lời khai và không có yêu cầu, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: khoảng 8 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, tại quán C1 địa chỉ: 1 Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 15 promax 256 GB màu trắng (đã qua sử dụng) của bị hại bà Trần Thị H có giá trị 23.166.667 đồng (Hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 204/CT-VKS-GV, ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản thu hồi trả lại cho bị hại, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị H vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bà H đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác, hiện không có thắc mắc khiếu nại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Tài phiên tòa, ông Nguyễn Huy M và ông Trương Công N1 vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông M đã nhận bồi thường từ ông N1 số tiền 13.800.000 đồng, ông N1 đã nhận bồi thường từ bà Đặng Thị Kim T1 số tiền 9.000.000 đồng. Ông M và ông N1 hiện không thắc mắc, khiếu nại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Tại phiên tòa, bà Đặng Thị Kim T1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000 đồng đã bồi thường cho ông N1 và đồng ý cho luôn bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax 256Gb và 01 sim số 8984048000908459759 (là sim ban đầu gắn vào điện thoại di động Iphone 15 Promax), Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại bà Trần Thị H; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 thu giữ của Đoàn Minh T, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho vợ của T là bà Đặng Thị Kim T1; 01 xe máy điện hiệu EVO 200 Vinfast biển số: 61C4-06487, thuộc sở hữu của Công ty cổ phần D và thông minh GMS, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho Công ty cổ phần D và thông minh GMS; Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại các tài sản trên là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.
  • Đối với 01 USB chứa video thể hiện Đoàn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Huy M và ông Trương Công N1 mua điện thoại di động Iphone 15 Promax 256Gb, khi mua điện thoại trên thì ông M và ông N1 không biết là tài sản do trộm cắp mà có. Lời khai của ông H2 và ông N1 phù hợp với lời khai của bị cáo nên không đủ cơ sở xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” là có cơ sở.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2024.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa video thể hiện Đoàn Minh T thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 19/4/2024.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 210/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Minh Tvề tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger