Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/DS-PT

Ngày 11 tháng 9 năm 2024

V/v: “Đòi tài sản; Hủy Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng và ông Nguyễn Phước Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Trương Khang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 288/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 222/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 252/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Trần Văn H, sinh năm 1982; Phạm Thị Bửu N, sinh năm 1982; cùng cư trú: số B, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Trần Văn H (theo giấy ủy quyền ngày 23/3/2023), vắng mặt.

  2. Bị đơn: Mai Thanh H1, sinh năm 1978 và Nguyễn Thị Huỳnh H2, sinh năm 1986; cùng nơi cư trú: tổ C, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Nguyễn Như H3, sinh năm 1951; nơi cư trú: số D T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mai Nhị Đ, sinh năm 1962 và Trần Thị Kim T, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: A, tổ C, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Mai Thanh H1, Nguyễn Thị Huỳnh H2 – bị đơn; Mai Nhị Đ, Trần Thị Kim T – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

    Nguyên đơn không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N trình bày:

Năm 2019, vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng từ ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T diện tích đất 116,1m² tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 59 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01943iA do U cấp ngày 29/11/2006 cho ông Đ và bà T.

Khi tiến hành đo đạc, tách quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà đối với phần diện tích đất chuyển nhượng thì có một phần căn nhà của ông Mai Thanh H1 (con của ông Mai Nhị Đ) cất trên đất nên khi đo đạc các bên đã thỏa thuận: ông bà đồng ý cho ông H1 tiếp tục giữ nguyên hiện trạng theo đó ông H1 cam kết khi nào ông bà có nhu cầu sử dụng thì ông H1 sẽ tháo dỡ và không có bất kỳ yêu cầu, khiếu nại gì. Sự việc thỏa thuận này có ghi nhận vào biên bản làm việc ngày 26/4/2019 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L.

Ngày 08/8/2019, ông bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 09018, thửa đất 53, tờ bản đồ 59.

Nay do có nhu cầu sử dụng nên ông bà yêu cầu ông H1, bà H2 tháo dỡ di dời trả lại phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 09018, thửa đất 53, tờ bản đồ 59 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A đã cấp cho ông Trần Văn H và bà Phạm Thị Bửu N.

Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Diện tích đất đang tranh chấp là của cha mẹ ông H1 (ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T) cho, việc tặng cho không làm văn bản, khi cho cất nhà thì quyền sử dụng đất hiện vẫn của ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T.

Nguồn gốc đất của ông Trần Văn H và bà Phạm Thị Bửu N là nhận chuyển nhượng từ cha mẹ ông H1 là ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T. Việc ông Đ, bà T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, bà N như thế nào thì phía bị đơn không biết và nội dung chuyển quyền như thế nào cũng không biết. Chỉ đến khi ông H, bà N làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà N thì phía bị đơn mới biết và tại biên bản làm việc ngày 26/4/2019 phía ông H đồng ý cho ông H1, bà H2 tiếp tục sử dụng do đó phía ông H1 mới đồng ý ký tên để ông H, bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nội dung biên bản ngày 26/4/2019 không ghi đúng ý kiến của ông H1, chỉ đồng ý đối với nội dung “...tôi Trần Văn H cho phép một phần căn nhà của ông Mai Thanh H1 tồn tại trên đất của tôi”, các nội dung khác ông H1 không đồng ý.

Ông H1 và bà H2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N, bởi theo biên bản làm việc ngày 26/4/2019, ông H đã đồng ý cho tồn tại căn nhà của ông H1 mà nay yêu cầu tháo dỡ là không đúng như đã thỏa thuận.

Ông H1 và bà H2 yêu cầu:

  • Yêu cầu Tòa án Long Xuyên đình chỉ giải quyết vụ án do sự việc chưa được hòa giải cơ sở, đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất do đó điều kiện khởi kiện là phải hòa giải cơ sở.
  • Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà N do cấp không đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T trình bày:

Căn nhà hiện nay của Mai Thanh H1 và Nguyễn Thị Huỳnh H2 cất trên phần đất ông bà được cấp quyền sử dụng đất, khi cất ông bà đồng ý. Sau đó, ông bà có chuyển nhượng cho ông Trần Văn H và Phạm Thị Bửu N diện tích đất 116,1m² tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01943iA do U cấp ngày 29/11/2006 cho ông Đ và bà T.

Khi ông H, bà N làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ý kiến thống nhất đồng ý cho ông H1 được quyền sử dụng đất theo hiện trạng nhà đã có từ trước. Do đó, việc ông H, bà N yêu cầu ông H1, bà H2 dỡ nhà trả đất là không đúng.

Ông bà đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do chưa hòa giải cơ sở và việc bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 288/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã quyết định:

- Căn cứ Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 12, Điều 166 của Luật đất đai 2013.

- Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N. Buộc ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 cùng có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ di dời vật kiến trúc trả lại cho ông H, bà N diện tích đất 5,7m² tại các điểm 10 - 9 – 5 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 31/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 192447 (số vào sổ: CS 09018) ngày 08/8/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N.

Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 192447 (số vào sổ: CS 09018) ngày 08/8/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N.

Về thời gian lưu cư: cho ông H1, bà H2 thời gian 04 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực để di dời vật kiến trúc.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 27/11/2023, bị đơn ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, trong trường hợp không hủy án đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H, bà N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 02/4/2024,

- Ông Trần Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu buộc ông H1 và bà H2 cùng có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ di dời vật kiến trúc trên đất trả lại cho ông bà diện tích đất 5,7m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà, theo bản trích đo hiện trạng khu đất đã thể hiện. Ông bà không đồng ý hỗ trợ di dời do phía bị đơn không có thiện chí. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do nhà này đã tồn tại từ trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà N. Đồng thời, tại biên bản làm việc ngày 26/4/2019 ông H đã đồng ý cho tồn tại căn nhà của ông H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/9/2024:

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: hộ gia đình của ông Mai Thanh H1 có 5 thành viên nhưng khi cam kết tại biên bản làm việc không có ý kiến của 4 thành viên còn lại. Ngoài ra, bị đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân thành phố U và các con của ông H1, bà H2 vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án L.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Mai Nhị Đ trình bày: thống nhất với ý kiến và trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Ông thừa nhận có chuyển nhượng đất cho ông H, bà N và ông là người bàn giao đất chuyển nhượng cho ông H quản lý sử dụng sau khi ký kết hợp đồng và nhận đủ tiền chuyển nhượng, nhưng khi đó ông H hứa cho nhà của H1, H2 tồn tại trên 20 năm nhưng nay kiện đòi đất là không đúng, việc hứa chỉ nói miệng không có văn bản.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án: Việc buộc ông H1 bà H2 tháo dỡ nhà có thể làm thay đổi kết cấu căn nhà, ảnh hưởng đến quyền cư trú của các thành viên khác trong hộ gia đình. Tại giai đoạn sơ thẩm chưa đưa các thành viên đang sinh sống trong hộ gồm các cháu H4, T1 và K vào tham gia tố tụng là thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bị đơn ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Nhị Đ và bà Trần Thị Kim T làm đơn kháng cáo, nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Tư cách tham gia tố tụng:

Ngày 02/8/2024, Tòa án nhận được văn bản chấm dứt ủy quyền cho ông Mai Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 của ông Hồ Trung C, ông H1 và bà H2 xác nhận đã ủy quyền cho ông Nguyễn Như H3 theo giấy ủy quyền ngày 07/8/2024, không còn ủy quyền cho ông Hồ Trung C theo giấy ủy quyền ngày 23/3/2023. Giấy ủy quyền của bị đơn cho ông H3 hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.3] Sự có mặt của các đương sự:

Nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người liên quan là bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N thì diện tích đất của ông H, bà N là nhận chuyển nhượng từ ông Mai Nhị Đ, bà Trần Thị Kim T, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 03/7/2019 tại Văn phòng C1. Thời điểm chuyển nhượng, ông Đ bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc chuyển nhượng được thực hiện đảm bảo đúng về hình thức, chủ thể, nội dung theo quy định pháp luật. Trong hồ sơ cấp giấy thể hiện việc đo đạc ngày 26/4/2019 cũng có chữ ký xác nhận của ông Mai Nhị Đ và ông Mai Thanh H1 về xác định mốc ranh, vị trí đất. Đồng thời, theo biên bản làm việc ngày 24/6/2019 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L lập có chữ ký của ông H, ông H1 và ông Đ cùng sự xác nhận của UBND phường M, biên bản có nội dung “ông H1 cam kết tháo dỡ trả lại mặt bằng xây dựng khi ông H có yêu cầu và không có bất kỳ khiếu nại gì về sau”.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, Điều 12, Điều 166 Luật Đất đai 2013 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Phạm Thị Bửu N: buộc ông Mai Thanh H1, bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ di dời vật kiến trúc trả lại cho ông H, bà N diện tích đất 5,7m² tại các điểm 10 - 9 - 5 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 31/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 192447 (số vào sổ: CS 09018) ngày 08/8/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông H, bà N là có căn cứ, đúng quy định.

[2.2] Tại biên bản thẩm định, xem xét tại chỗ ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xác định căn nhà của ông Mai Thanh H1 có kết cấu nền gạch men, khung gỗ vuông, vách gạch xây, mái tole. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H1, bà H2 tháo dỡ nhà có thể làm thay đổi kết cấu căn nhà, ảnh hưởng đến nơi cư trú của các thành viên đang sinh sống trong nhà của ông H1, bà H2.

Tại biên bản xác nhận thông tin về cư trú của Công an phường M, thành phố L xác nhận thành viên trong hộ của ông Mai Thanh H1 gồm có: Chủ hộ - Mai Thanh hiền, các thành viên khác – Nguyễn Thị Huỳnh H2, Mai Thị Bích H4 (sinh năm 2004), Mai Thị Cẩm T1 (sinh năm 2014), Mai Thị Thiên K (sinh năm 2017). Việc buộc ông H1 bà H2 tháo dỡ nhà có thể làm thay đổi kết cấu căn nhà, ảnh hưởng đến quyền cư trú của các thành viên khác trong hộ gia đình. Tại giai đoạn sơ thẩm chưa đưa các thành viên đang sinh sống trong hộ gồm các cháu H4, T1 và K vào tham gia tố tụng là thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đồng thời gây khó khăn trong giai đoạn thi hành án.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm còn thiếu sót trong việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng nên cần phải hủy bản án sơ thẩm và giao lại hồ sơ vụ án cho giao lại hồ sơ để cấp sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.

Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm không đưa các thành viên trong hộ ông Mai Thanh H1 vào tham gia tố tụng là khách quan, do sự không hợp tác của phía bị đơn, không tham gia các phiên họp, các buổi đo đạc, thẩm định, xem xét tại chỗ của Tòa án, không cung cấp thông tin các thành viên trong hộ gia đình cho Tòa án cấp sơ thẩm.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được giải quyết khi Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết theo quy định.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do được chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Ông H1 và bà H2 được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,

    Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 288/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được giải quyết khi Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết theo quy định.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mai Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Huỳnh H2 mỗi người được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001199 và 0001198 cùng ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - TAND thành phố Long Xuyên (2);
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên (1);
  • - Phòng KTNV& THA (1);
  • - Tòa Dân sự (1);
  • - Đương sự (6);
  • - Lưu: HS, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Giao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 210/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger