Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/DS-PT
Ngày: 07/5/2024
V/v “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng
cho thuê đất, kiện đòi tài sản là quyền sử
dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng; Ông Phạm Đình Khánh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 78/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4722/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1995; đăng ký HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số nhà B đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972; đăng ký HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số nhà B đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

* Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1982 và chị Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 1986; Đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Anh T có mặt, chị Quỳnh A vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Quỳnh A: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1982; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T1 - Chủ tịch UBND huyện K; Vắng mặt.
  2. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Ngọc H1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Bà B Đỗ Thị H, sinh năm 1972; Đăng ký HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số nhà B đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  4. Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1992; địa chỉ: Số nhà B đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972; đăng ký HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số nhà B đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1971; đăng ký HKTT: Xóm T, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  7. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1946; địa chỉ: Đ Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1978; địa chỉ: Đ Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1948; địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Vắng mặt.
  9. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1954; địa chỉ: Đ Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của bà R: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1946; địa chỉ: Đ Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  10. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của bà S: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  11. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1978; địa chỉ: Đ Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  12. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A Cầu Đ, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  13. Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số nhà A đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H2: Bà Đặng Thị Minh L, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; Có mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2022, các lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Nguyễn Đức C do người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị H trình bày:

Thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03, diện tích 81,0m² tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc là đất do bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn T2 và bà Đỗ Thị H cho từ năm 2013, được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) số BN 813202, số vào sổ cấp GCN CH 00248 ngày 03/4/2013; tên người sử dụng đất: Nguyễn Đức C. Ngày 19/01/2021, ông T2 cùng vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị H2 tự ý ký hợp đồng cho anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A thuê để xây nhà trên toàn bộ diện tích đất nêu trên của anh C trong thời hạn 10 năm. Vì vậy, anh C khởi kiện yêu cầu: Hủy hợp đồng thuê mặt bằng đất thổ cư diện tích 81,0 m² giữa ông T2, bà H2 với anh T, chị Quỳnh A lập ngày 19/01/2021; buộc vợ chồng anh T, chị Quỳnh A phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03, diện tích 81,0m² của anh C tại thôn P, xã Đ, huyện K để trả lại quyền sử dụng đất hợp pháp cho anh C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 16/12/2022 anh Nguyễn Đức C đã chuyển nhượng quyền sử dụng 81m² đất nêu trên cho chị Phạm Thị N1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập tại Văn phòng C1 và chị N1 đã được Văn phòng Đ chi nhánh huyện K chứng nhận chuyển nhượng theo hồ sơ số 00125.CN.001 ngày 30/3/2023. Do vậy, phía nguyên đơn xin rút yêu cầu đề nghị anh T, chị Quỳnh A phải trả lại đất cho anh C, giữ nguyên yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất giữa ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2 với anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A, buộc anh T, chị Quỳnh A phải tháo dỡ công trình có trên đất để trả lại mặt bằng thửa đất cho chị N1.

Bị đơn là anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A (anh Vũ Văn T là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Quỳnh A) trình bày:

Ngày 19/01/2021, anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Quỳnh A có ký hợp đồng với ông Nguyễn Văn T2 để thuê mặt bằng đất thổ cư (đất ở) diện tích 90,0m² (chiều ngang 5m, chiều dài 18m), thời hạn thuê 10 năm, có chứng thực của UBND xã Đ, huyện K. Anh T và chị Quỳnh A chỉ biết nguồn gốc đất đó là của bố mẹ đẻ ông T2 (đều đã chết) để lại, ông T2 cùng vợ hiện nay là bà Nguyễn Thị H2 đang trực tiếp sử dụng nên mới thuê. Ông T2 tự chỉ về ranh giới, mốc giới, xác định diện tích để anh T và chị Quỳnh A xây nhà để kinh doanh quần áo. Sau khi làm hợp đồng thuê đất với ông T2, bà H2 có xác nhận của UBND xã Đ thì anh T, chị Quỳnh A đã tiến hành xây dựng cửa hàng để kinh doanh quần áo, tiền đầu tư xây dựng cửa hàng là 350.000.000 đồng. Nay anh C có đơn khởi kiện đối với anh T, chị Quỳnh A thì quan điểm của anh chị như sau: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp anh T và chị Quỳnh A phải tháo dỡ công trình để trả lại mặt bằng thửa đất thì anh chị đề nghị ông Nguyễn Văn T2 phải bồi thường cho anh chị theo như thỏa thuận đã ký trong hợp đồng nhưng phần bồi thường này do anh C và chị Quỳnh A tự thỏa thuận giải quyết với ông Nguyễn Văn T2, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu không thỏa thuận được anh T và chị Quỳnh A sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Hồng N2 trình bày:

Bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn T2 chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống như vợ chồng có 02 người con là Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1992 và Nguyễn Đức C, sinh năm 1995.

Thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 do cụ Phạm Thị T4 (mẹ ông T2) mua lại khoảng 1 sào 4 thước của ông Phạm Văn T5 vào khoảng năm 1987 hoặc năm 1988, số tiền mua là 1,4 cây vàng. Nguồn tiền mua đất do ông T2 đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ gửi về. Khi mua đất không thông qua chính quyền địa phương, không có người làm chứng. Năm 1992, bà H về ở cùng mẹ con ông T2, bà R (chị ông T2) và cháu Nguyễn Văn Q (con đẻ bà R), lúc này trên thửa đất số 08 đã xây dựng công trình trên đất gồm 02 căn nhà, trong đó: 01 căn nhà cấp 4, 02 gian mái ngói (sau này làm bếp), diện tích khoảng 25m² và 01 nhà cấp 4, 02 gian mái bằng, diện tích khoảng 45m². Xung quanh nhà là đất trũng, trồng rau và chuối. Năm 1993, cụ T4 và mẹ con bà R chuyển về ở cùng với ông T3. Bà H là người trực tiếp bỏ công sức tôn tạo đất từ đất trồng rau, chuối thành đất ở.

Năm 2005, UBND xã Đ thông báo trên loa phát thanh của xã để các hộ dân được biết về việc làm thủ tục cấp GCNQSD đất ở. UBND xã có giấy mời đại diện gia đình cụ T4 đến xã làm việc. Ông T2 có biết nội dung giấy mời nhưng không đến mà bỏ vào N. Vì vậy, một mình bà H đã đến UBND xã và làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất vào khoảng tháng 7/2005. Giữa cụ T4 với bà H và ông T2 không có hợp đồng tặng cho đất bằng văn bản, không có thỏa thuận cho đất. Khi bà H có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, UBND xã Đ tiến hành các thủ tục xem xét về nguồn gốc đất, lập biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất số 08. Ngày 23/12/2005, UBND huyện K đã cấp GCNQSD đất AÐ 777510, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00320/KT - 05 - Q1 đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, diện tích: 358,0m² (trong đó: Sử dụng riêng 358,0m²; công trình xây dựng 32,0m²), địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng mang tên hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2. Từ khi thửa đất số 08 được cấp GCNQSD đất thì giữa bà H với ông T2 không hề xảy ra tranh chấp gì.

Năm 2008, ông T2 phát sinh quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác (không rõ tên tuổi và địa chỉ), về nhà chửi bới, đánh đuổi bà H và 02 con chung đi. Năm 2012, bà H và ông T2 thống nhất tách 81,0m² đất trong tổng số diện tích 358,0m² đất tại thửa đất số 08 để tặng cho con chung là Nguyễn Đức C. Bà H và ông T2 có lập biên bản thỏa thuận chia tài sản tại UBND xã Đ vào ngày 25/10/2012, đồng thời làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho anh C, được UBND xã Đ chứng thực. Năm 2013, anh Nguyễn Đức C được UBND huyện K cấp GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013 đối với thửa đất số 08 - 1, tờ bản đồ số 3; diện tích: 81,0m²; địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Ngày 03/4/2013, GCNQSD đất mang tên bà H và ông T2 được đính chính nội dung theo Quyết định số 467/QĐ-UBND ngày 03/4/2013 của UBND huyện K. Diện tích đất còn lại tại thửa số 08 là 277,0m².

Bà H sống ly thân với ông T2 từ năm 2008 thì đến năm 2010 ông T2 chung sống với bà Nguyễn Thị H2 như vợ chồng tại nhà, đất ở thửa số 08. Khoảng năm 2014, ông T2 kết hôn với bà H2; hiện nay ông T2, bà H2 vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất nêu trên.

Ngoài ra, trên thửa đất số 08 thì anh Nguyễn Văn K, vợ là Nguyễn Thị H3 (con trai và con dâu ông Nguyễn Văn T3) có xây thêm 01 nhà ở (dạng nhà cấp 4 nhà lô) cùng công trình phụ khép kín năm 2010. Hiện nay, bà H3 không có tranh chấp gì với anh K, chị H3.

Tháng 01/2021, ông T2 tự ý cho anh Vũ Văn T và vợ là chị Nguyễn Quỳnh A thuê mặt bằng đất có nội dung: Thuê mặt bằng đất ở (đất thổ cư) của ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2; diện tích 90m² chiều ngang 5,0m, chiều dài 18m. Sau đó, ông T2 tự ý ra chỉ diện tích đất cho anh T, chị Quỳnh A thuê tại vị trí đất mà anh C được cấp GCNQSD đất năm 2013; đồng thời lấn 10m² đất mà bà H3, ông T2 được cấp GCNQSD đất năm 2005.

Bà H3 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án hủy hợp đồng thuê đất của ông T2, bà H2 với anh T, chị Quỳnh A; không đồng ý với yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho anh Nguyễn Đức C; bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn T2. Ngoài ra bà H không có yêu cầu độc lập, không có ý kiến, đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị S trình bày:

Bố mẹ đẻ ông Nguyễn Văn T2 là cụ Nguyễn Văn X, sinh năm 1920 (chết năm 1986) và cụ Phạm Thị T4, sinh năm 1920 (chết năm 2006) sinh được 06 người con; cụ thể: Ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị N3 (chết từ nhỏ).

Trong quá trình chung sống, cụ X và cụ T4 tạo dựng được tài sản gồm 02 thửa đất:

Thửa đất thứ nhất có diện tích khoảng 02 sào, tương đương 720,0m² tại đội 6, thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Thửa đất này hiện nay đang do gia đình ông Nguyễn Văn T3 và gia đình bà Nguyễn Thị R cùng sử dụng. Diện tích đất này hiện không có tranh chấp gì.

Thửa đất thứ hai là diện tích đất tại thửa đất 08, tờ bản đồ số 03 là của cụ Nguyễn Văn X, và cụ Phạm Thị T4 mua của ông Phạm Văn T5, vợ là Phạm Thị L1 tại đội 3, thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, có diện tích khoảng hơn 01 sào đất, tương đương hơn 360,0m² (trên đất đã có sẵn 01 móng nhà) với số tiền tại thời điểm đó tương đương 1.2 cây vàng, đổ thêm đất để tôn nền hết 02 chỉ vàng, tổng cộng trị giá 1.4 cây vàng (do khi mua có một phần trong tổng diện tích đất là đất ruộng rau xanh, hủm sâu). Năm 1987, cụ Phạm Thị T4 bỏ tiền xây 01 nhà ngang 02 gian, lợp ngói ở phía gần giữa thửa đất để cụ T4, bà R và con trai là cháu Nguyễn Văn Q ở (do xây dựng lâu năm đã xuống cấp, bị hư hỏng nặng, phải phá dỡ năm 2020). Năm 1988, cụ T4 bỏ tiền xây 01 nhà 02 gian mái bằng, diện tích 40m² (nhà xây trên móng nhà do ông T5, bà L1 xây từ trước khi bán đất) ở giáp đường liên xã, năm 1988 khi ông T2 ở Đức về thì ở cùng mẹ, bà R và cháu Q tại nhà xây trên thửa đất đó.

Ông Nguyễn Văn T2 và bà Đỗ Thị H chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 người con là Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1992 và Nguyễn Đức C, sinh năm 1995. Ông T2, bà H cùng chung sống với cụ T4 tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03. Khoảng năm 1994, cụ T4 cùng bà R và cháu Q chuyển về sinh sống cùng với ông T3 và vợ, con ông T3 trên thửa đất ở thứ nhất của cụ X, cụ T4 tại đội F, thôn P, xã Đ.

Việc làm thủ tục xin cấp GCNQSD đất ở thứ hai của cụ X, cụ T4 mua năm 1986 nêu trên do bà Đỗ Thị H tự làm và ký các thủ tục tại UBND xã Đ, huyện K, cụ Phạm Thị T4 và các con là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị S đều không biết, không có ý kiến và không ký vào bất cứ giấy tờ, thủ tục gì. Sau đó UBND huyện K cấp GCNQSD đất số AD 777510, số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00320/KT - 05 - Q1 ngày 23/12/2005, tên người sử dụng đất: Hộ bà Nguyễn Thị H3, chồng Nguyễn Văn T2; địa chỉ thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; diện tích: 358,0m²; mục đích sử dụng: Đất làm nhà ở; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Đất thổ cư cũ sử dụng từ trước năm 1980; công trình xây dựng: 32,0m².

Việc làm thủ tục chia, tách 81,0m² đất ở cho anh Nguyễn Đức C do bà Đỗ Thị H tự làm và ký các thủ tục xin cấp GCNQSD đất tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Ông T2 không biết và không ký vào thủ tục tặng cho thửa đất này cho anh Nguyễn Đức C. Sau đó UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03 tháng 4 năm 2013; tên người sử dụng đất: Nguyễn Đức C; hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03, địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; diện tích: 81,0m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Nhận tặng cho từ đất Nhà nước công nhận quyền sử dụng.

Ông Nguyễn Văn T2 có yêu cầu độc lập như sau: Đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất số AÐ 777510, số vào sổ cấp GCNQSD đất số 00320/KT -05-Q1 ngày 23/12/2005; tên người sử dụng đất: Hộ bà Nguyễn Thị H3, chồng Nguyễn Văn T2; diện tích 358,0m², thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K. Ngày 03/4/2013 đính chính “Tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Đỗ Thị H cho ông Nguyễn Đức C diện tích 81,0m² theo Quyết định số 467/QĐ-UBND ngày 03/4/2013 của UBND huyện K. Diện tích còn lại của bà Đỗ Thị H là 277,0m²”; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013; tên người sử dụng đất: Nguyễn Đức C; diện tích 81,0m², thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị N1 theo hồ sơ số 00125.CN.001 ngày 30/3/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện K, thành phố Hải Phòng để trả lại quyền sử dụng đất cho hàng thừa kế của cụ X, cụ T4 là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn T2.

Đối với anh Nguyễn Văn K, vợ là Nguyễn Thị H3 (con trai và con dâu ông Nguyễn Văn T3) hiện đang quản lý, sử dụng tài sản là 01 nhà ở (dạng nhà cấp 4 nhà lô) cùng công trình phụ khép kín xây dựng khoảng năm 2010 trên diện tích đã được cấp GCNQSD đất mang tên bà H3, ông T2 thì ông T2 không có tranh chấp gì với anh K, chị H3, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu có sẽ yêu cầu bằng một vụ kiện khác.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Quỳnh A trong trường hợp anh T, chị Quỳnh A phải tháo dỡ công trình để trả lại mặt bằng đất thì ông T2 đề nghị tự thỏa thuận giải quyết với anh T, chị Quỳnh A, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T3 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị R trình bày:

Bố mẹ đẻ ông là cụ Nguyễn Văn X và cụ Phạm Thị T4 sinh được 06 người con như ông T2 trình bày là đúng.

Cụ X, cụ T4 tạo dựng được khối tài sản chung là 02 thửa đất, 01 thửa đất tại Đội 6, P, Đ hiện đang do ông T3 quản lý, sử dụng, còn 1 thửa hiện đang do ông T2 quản lý, sử dụng tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, diện tích khoảng 358m² tại Đ, P, xã Đ, huyện K, Hải Phòng. Diện tích đất tại Đ, Phong C thì đã được cấp GCNQSD đất cho 2 người là ông Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị R. Đối với việc bà H3, ông T2 làm thủ tục xin cấp GCNQSD đất thì ông T3 không biết và không ký giấy tờ gì.

Trên thửa đất mà ông T2 đang quản lý hiện nay có 01 ngôi nhà do ông T2, bà Nguyễn Thị H2 sử dụng và 01 ngôi nhà do vợ chồng con trai ông T3 là Nguyễn Văn K và vợ là Nguyễn Thị H3 sử dụng. Căn nhà anh K, chị H3 đang sử dụng do ông T3 xây khoảng năm 2009, diện tích khoảng 82m², căn nhà này ông T3 đã cho vợ chồng con trai là anh K, chị H3 ở. Khi ông T3 xây dựng căn nhà trên thì không ai có ý kiến gì.

Về việc ông T3 ký vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ngày 25/10/2012 tại UBND xã Đ với nội dung bà Đỗ Thị H tặng cho anh Nguyễn Đức C là con trai bà H, ông T2 01 diện tích đất thì ông T3 không biết và không ký vào Hợp đồng đó với tư cách người làm chứng.

Ông T3 đồng ý với ý kiến của ông T2, không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T3 trình bày:

Căn nhà hiện anh K đang quản lý, sử dụng do bố anh là ông Nguyễn Văn T3 xây dựng vào khoảng năm 2009, nằm trong diện tích đất đã được cấp GCNQSD đất mang tên bà H, ông T2. Khi ông T3 xây dựng căn nhà trên thì cả ông T2, bà H đều biết nhưng không ai có ý kiến gì. Việc bà H và ông T2 được cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất này anh K không được biết. Hiện nay, căn nhà này vẫn đang do anh K quản lý, sử dụng và hiện tại ông T2, bà Đỗ Thị H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác là ông T3, ông T2, bà D, bà R, bà S, chị Nguyễn Thị H3 cũng không ai có ý kiến gì về việc anh K đang quản lý, sử dụng căn nhà này. Căn nhà hiện nay anh K đang sử dụng đã được Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xem xét, thẩm định hiện trạng là đúng, anh K không có ý kiến, đề nghị gì về vấn đề này. Nguồn gốc của thửa đất này là của ông bà nội anh K là cụ Nguyễn Văn X và Phạm Thị T4 để lại, các cụ mất đi không để lại di chúc và trong gia đình cũng chưa phân chia di sản thừa kế của các cụ để lại.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức C đối với anh Vũ Văn T và vợ là chị Nguyễn Quỳnh A thì anh K không có ý kiến gì. Anh K đồng ý với ý kiến của ông T2 về việc đề nghị Tòa án hủy các GCNQSD đất đã cấp cho bà H3, ông T2 và GCNQSD đất đã cấp cho anh Nguyễn Đức C để trả lại đất cho hàng thừa kế của cụ X, cụ T4; trong trường hợp có ảnh hưởng đến quyền lợi của anh K thì anh K đề nghị để tự thỏa thuận với người có liên quan, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh K không có yêu cầu độc lập, không có yêu cầu, đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai có trong hồ sơ thể hiện:

Chị Nguyễn Thị H3 là vợ của anh Nguyễn Văn K, hiện nay anh, chị đang sống ly thân. Về nguồn gốc của thửa đất thì chị H3 chỉ biết là của ông bà nội chồng là cụ Nguyễn Văn X và Phạm Thị T4 để lại, các cụ chết đi có để lại di chúc hay không và trong gia đình đã phân chia di sản thừa kế hay chưa thì chị không biết. Chị H3 cũng không biết việc bà H3, ông T2 đã làm GCNQSD đất đối với diện tích đất tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại địa chỉ thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng cũng như không biết việc tặng cho một phần diện tích đất cho anh Nguyễn Đức C. Hiện nay, trên diện tích đất này có 01 căn nhà do ông Nguyễn Văn T3 xây dựng và cho vợ chồng chị. Chị đồng ý với yêu cầu của ông Nguyễn Văn T2, không có yêu cầu độc lập, không có ý kiến đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Văn X và cụ Phạm Thị T4 sinh được 06 người con và sinh thời hai cụ tạo dựng được khối tài sản chung là 02 thửa đất, 01 thửa đất tại Đội 6, P, Đ hiện đang do ông T3, bà R quản lý, sử dụng; còn 1 thửa tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng hiện đang do ông T2 quản lý, sử dụng. Khi cụ X, cụ T4 mất không để lại di chúc, gia đình chưa chia thừa kế đối với di sản các cụ để lại.

Bà S không biết việc bà H3, ông T2 làm GCNQSD đất mang tên ông T2, bà H3 đối với diện tích đất tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, không biết việc bà H3, ông T2 tặng cho anh Nguyễn Đức C một phần diện tích đất. Bà S không biết và không có sự đồng ý của bà S. Bà S đồng ý với ý kiến của ông T2, không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà D không biết việc bà H3, ông T2 làm GCNQSD đất mang tên ông T2, bà H3 đối với diện tích đất tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, không biết việc bà H3, ông T2 tặng cho anh Nguyễn Đức C một phần diện tích đất. Bà D không biết và không có sự đồng ý của bà D. Bà D đồng ý với ý kiến của ông T2; không yêu cầu chia di sản thừa kế, từ chối nhận phần thừa kế của mình, đồng ý cho ông T2 phần di sản mà bà D được hưởng theo quy định của pháp luật trong trường hợp chia di sản thừa kế của cụ X, cụ T4 để lại; không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H2 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H2 là bà Đặng Thị Minh L thống nhất trình bày:

Bà H2, bà L đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2, không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến, đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị N1 trình bày:

Do có nhu cầu mua đất nên chị Nguyễn Thị N4 đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 81m² tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng theo GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00248 ngày 03/4/2013 mang tên anh Nguyễn Đức C. Chị N4 đã được Văn phòng Đ chi nhánh huyện K chứng nhận quyền sở hữu theo hồ sơ số 001251.CN.001 ngày 30/3/2023. Khi nhận chuyển nhượng chị N4 không biết đây là thửa đất đang có tranh chấp, nay chị N4 đề nghị giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng giữa anh C và chị N4, đề nghị anh T và chị Quỳnh A tháo dỡ công trình có trên đất để trả lại mặt bằng thửa đất. Chị N4 không có yêu cầu độc lập, không có ý kiến, đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện K, thành phố Hải Phòng trình bày:

Việc thực hiện trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên để ổn định tình hình chính trị tại địa phương và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo hướng hòa giải và không tuyên hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Đ chi nhánh huyện K, thành phố Hải Phòng trình bày:

Ngày 24/3/2023 Văn phòng Đ chi nhánh huyện K nhận được hồ sơ đăng ký biến động của bà Phạm Thị N1 đối với thửa đất tại thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng theo GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 813202 do UBND huyện K cấp ngày 03/4/2013 cho ông Nguyễn Đức C. Văn phòng Đ chi nhánh huyện K đã tiến hành các thủ tục sau đó chỉnh lý sang tên bà Phạm Thị N1 ngày 30/3/2023. Văn phòng đăng ký đất đai huyện K đã cung cấp toàn bộ hồ sơ đăng ký biến động đất đai từ anh Nguyễn Đức C sang bà Phạm Thị N1 cho Tòa án. Về trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai từ anh Nguyễn Đức C sang bà Phạm Thị N1 thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Kết quả xác minh tại UBND xã Đ, huyện K thể hiện:

- Nguồn gốc đất thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng diện tích đất 358,0m² là của cụ T4, cụ X. Cụ X chết năm 1987, cụ T4 chết năm 2006 đều không để lại di chúc. Thửa đất nêu trên là di sản thừa kế cho hàng thừa kế thứ nhất. Không có tài liệu thể hiện việc hàng thừa kế thứ nhất tặng cho tài sản trên cho bà H3, ông T2 nên việc hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2 được cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ diện tích 358,0m² là không phù hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác, bà H và ông T2 chung sống với nhau từ tháng 02/1992, không có đăng kết hôn. Tại Bản án số 27/2014/HNGĐ-ST ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử: Tuyên bố không công nhận bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn T2 là vợ chồng. Vì vậy, việc UBND huyện K cấp GCNQSD đất đối với thửa đất 08, tờ bản đồ 03, số AÐ 777510, số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00320/KT - 05 - Q1 ngày 23/12/2005 mang tên hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2 là chưa đúng. Do đó, UBND xã Đ đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất mà hộ bà H, ông T2 được UBND huyện K cấp năm 2005.

Đề nghị hủy hợp đồng thuê mặt bằng đất thổ cư ngày 19/01/2021 giữa ông T2, bà H2 với anh T vì có nhiều sai sót. Bên nào có lỗi thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với thửa đất số 08 - 01, tờ bản đồ số 03, có diện tích 81,0 m²; địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng đã được UBND huyện K cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013 mang tên ông Nguyễn Đức C nếu có căn cứ sai về trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất thì đề nghị Tòa án hủy theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 20/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 49, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 127, 128, 256, 675, 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 116, 117, 123, 155, 158, 166, 274, 275, 407, 408, 422, 423 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 98, 99, 100, 167, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Đức C về việc hủy hợp đồng thuê mặt bằng đất thổ cư (đất ở) ngày 19/01/2021 giữa ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2 và anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A; buộc anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A phải tự tháo dỡ, di dời tài sản là công trình, vật kiến trúc có trên phần diện tích đất (tại các mốc 5-5a-6a-6-5 theo sơ đồ kèm theo bản án) để trả lại mặt bằng thửa đất cho chị Phạm Thị N1 (theo các mốc H-5a-6a-G-H theo sơ đồ kèm theo bản án), chi phí tháo dỡ và di dời tài sản do anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Quỳnh A tự chịu.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 777510, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: 00320/KT-05-Q1 ngày 23/12/2005; tên người sử dụng đất: Hộ bà Nguyễn Thị H3, chồng Nguyễn Văn T2; diện tích 358,0 m², thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K. Ngày 03/4/2013 đính chính “Tặng cho QSD đất từ bà Đỗ Thị H cho ông Nguyễn Đức C diện tích 81,0m² theo Quyết định số: 467/QĐ-UBND ngày 03/4/2013 của UBND huyện K. Diện tích còn lại của bà Đỗ Thị H là 277,0 m²”.
    - Trả lại cho ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị S diện tích đất theo hiện trạng sử dụng là 265.7m² tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng (cụ thể tại các mốc 1-2-3-4-5-H-G-6-6b-1theo sơ đồ kèm theo bản án);
    - Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013; tên người sử dụng đất: Nguyễn Đức C; diện tích 81,0 m², thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã Đ, huyện K đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị N1 theo hồ sơ số 00125.CN.001 ngày 30/3/2023.
  3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đức C đối với anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Quỳnh A;

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định án phí, thi hành án dân sự và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2023, bị đơn anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

- Nguyên đơn vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Kiến Thụy vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

- Bà Đặng Thị Minh L trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Các đương sự đều thừa nhận thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03, diện tích 81m² là một phần của thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, diện tích 358m² của cụ Nguyễn Văn X, Phạm Thị T4 để lại. Cụ X và cụ T4 chết không để lại di chúc. Cụ X và cụ T4 có 06 người con, trong đó có 01 người chết từ nhỏ, còn lại 05 người là ông T3, ông T2, bà D, bà R, bà S.

Năm 1992, bà H về chung sống với ông T2 không đăng ký kết hôn, bà H là người đứng ra kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 23/12/2005, UBND huyện K đã cấp GCNQSD đất mang tên hộ bà Đỗ Thị H, chồng là Nguyễn Văn T2. Hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện cụ X, cụ T4 cho bà H, ông T2 đất, bà H cũng khai bà H tự mình đến UBND xã làm thủ tục kê khai để cấp GCNQSD đất. Như vậy, việc cấp GCNQSD đất cho hộ bà H, ông T2 là không đúng về nguồn gốc và đối tượng. Năm 2012, bà H, ông T2 lập hợp đồng tặng cho anh Nguyễn Đức C (con trai bà H, ông T2) 81,0m² đất, có chữ ký làm chứng của ông Nguyễn Văn T3 và xác nhận của UBND xã Đ. Năm 2013, anh C được cấp GCNQSD đất thửa số 08-1, tờ bản đồ số 03, diện tích 81m². Ngày 16/12/2022, anh C đã chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho bà Phạm Thị N1. Ngày 30/3/2023, bà N1 đã được UBND huyện K cấp GCNQSD đất. Như vậy, việc ông T2, bà H tự kê khai để được cấp GCNQSD đất, sau đó lại định đoạt tách đất cho anh C, anh C chuyển nhượng lại cho chị N1 đều không đúng quy định pháp luật. Tại buổi hòa giải ngày 11/8/2023, thông qua Thẩm phán ông T2 mới biết anh C đã chuyển nhượng diện tích 81m² đất cho chị N1, chị N1 đã được cấp GCNQSD đất; vì vậy ông T2 đề nghị hủy cả 03 GCNQSD đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết 02 yêu cầu độc lập của ông T2, không xem xét yêu cầu độc lập của ông T2 về việc hủy GCNQSD đất đứng tên bà N1 là không giải quyết hết yêu cầu của đương sự, vi phạm tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để giải quyết lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thời hạn và thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của anh T, chị Quỳnh A, ông T2, bà H2, anh K đảm bảo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Kiến Thụy vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[1.3]. Về thụ lý yêu cầu độc lập:

Anh Nguyễn Đức C khởi kiện đề nghị hủy hợp đồng thuê mặt bằng đất thổ cư lập ngày 19/01/2021 giữa ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2 với anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A và yêu cầu anh T, chị Quỳnh A phải tháo dỡ tài sản, công trình, vật kiến trúc có trên đất để trả lại nguyên trạng thửa đất cho anh C. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của anh C xin rút nội dung yêu cầu khởi kiện buộc anh T, chị Quỳnh A phải trả lại nguyên trạng thửa đất cho anh C; đồng thời đề nghị anh T, chị Quỳnh A phải trả lại nguyên trạng thửa đất cho chị N1.

Sau khi anh C khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất số AÐ 777510 ngày 23/12/2005 do UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T2 đối với diện tích đất 358m² (diện tích còn lại là 277m²) và hủy GCNQSD đất số BN 813202 ngày 03/4/2013 do UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Đức C, diện tích 81m² (địa chỉ các thửa đất tại thôn P, xã Đ, huyện K) để trả lại quyền sử dụng đất cho các thừa kế của cụ Nguyễn Văn X, cụ Phạm Thị T4 gồm ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn T2.

Tại Thông báo về việc thụ lý số 110/TB-TLVA ngày 05/10/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, gồm: (1) Hủy GCNQSD đất số AÐ 777510, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 00320/KT-05-Q1; thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 mang tên hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2; (2) Hủy GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH00248 ngày 03/4/2013 đối với thửa đất số 08-01, tờ bản đồ số 03 mang tên ông Nguyễn Đức C.

Trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm đang giải quyết vụ án thì ngày 16/12/2022 anh Nguyễn Đức C đã chuyển nhượng quyền sử dụng 81m² đất tại thửa đất số 08 - 01, tờ bản đồ số 03 mang tên anh Nguyễn Đức C cho chị Phạm Thị N1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập tại Văn phòng C1.

Tại Bản tự khai bổ sung ngày 20/7/2023, ông T2 đề nghị huỷ GCNQSD đất số BN 813202 ngày 03/4/2013 do UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Đức C, số vào sổ cấp GCN: CH 00248; chuyển nhượng cho chị Phạm Thị N1 theo hồ sơ số 001251.CN.001 ngày 30/3/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện K. Tại Biên bản hoà giải và Biên bản về việc kiểm tra, giao nộp chứng cứ cùng ngày 11/8/2023, ông T2 đề nghị huỷ 03 GCNQSD đất trong đó có GCNQSD đất cấp cho bà N1.

Tòa án cấp sơ thẩm đã không thụ lý yêu cầu độc lập bổ sung của ông T2 về việc đề nghị huỷ GCNQSD đất do UBND huyện K cấp cho bà Phạm Thị N1 theo hồ sơ số 001251.CN.001 ngày 30/3/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện K là thiếu sót, dẫn đến không giải quyết hết các yêu cầu của đương sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Đức C và yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H về việc yêu cầu hủy hợp đồng thuê mặt bằng đất thổ cư giữa ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2 với anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A lập ngày 19/01/2021; đồng thời yêu cầu anh T, chị Quỳnh A phải tháo dỡ tài sản, công trình, vật kiến trúc có trên đất để trả lại nguyên trạng thửa đất, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo tài liệu xác minh tại UBND xã Đ, huyện K thể hiện việc ông T2, bà H2 và anh T, chị Quỳnh A ký hợp đồng thuê mặt bằng đất ngày 19/01/2021 có những sai sót như sau:

Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Quỳnh A thuê mặt bằng đất ở (đất thổ cư) của ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2; diện tích 90m² chiều ngang 5,0 m, chiều dài 18 m nhưng không chỉ rõ ranh giới, mốc giới phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây của diện tích đất cho thuê mặt bằng; bên thuê mặt bằng trong hợp đồng gồm anh Vũ Văn T, vợ Nguyễn Quỳnh A nhưng chủ thể ký kết hợp đồng chỉ có anh T mà không có chị Quỳnh A; hộ bà H, ông T2 là người được UBND huyện K cấp GCNQSD đất năm 2005 đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 nhưng trong hợp đồng không có tên và chữ ký của bà Đỗ Thị H. Đồng thời, sau khi giao kết hợp đồng, ông Nguyễn Văn T2 đã bàn giao không đúng mặt bằng đất cho thuê cho anh T, chị Quỳnh A. Cụ thể diện tích đất cho thuê nằm tại vị trí thửa đất số 08 - 01, tờ bản đồ số 03 của anh Nguyễn Đức C được cấp GCNQSD đất năm 2013, diện tích 81,0m², chỉ có khoảng 10m² đất cho thuê nằm tại vị trí thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, chủ sử dụng đất là bà H và ông T2. Do vậy, UBND xã Đ đề nghị hủy hợp đồng cho thuê đất giữa ông T2, bà H2 với anh T và chị Quỳnh A.

Như vậy, tại thời điểm ký hợp đồng cho thuê đất giữa ông T2, bà H2 và anh T, chị Quỳnh A thì anh Nguyễn Đức C là người đứng tên trên GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013 đối với thửa đất số 08 - 1, tờ bản đồ số 3; diện tích: 81,0 m²; địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Diện tích đất ông T2, bà H2 ký hợp đồng cho anh T, chị Quỳnh A thuê nằm hoàn toàn trong diện tích đất được cấp GCNQSD đất cho anh C; khi ông T2, bà H2 cho anh T, chị Quỳnh A thuê đất không có ý kiến đồng ý của anh C. Như vậy, ông T2 và bà H2 không có quyền cho thuê đối với diện tích đất này; việc ông T2, bà H2 cho anh T, chị Quỳnh A thuê diện tích đất nêu trên là không đúng quy định tại các Điều 122, 123, 407, 408, 422, 423 Bộ luật Dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên hủy hợp đồng cho thuê đất giữa ông T2, bà H2 với anh T, chị Quỳnh A và buộc anh T và chị Quỳnh A phải tự tháo dỡ công trình có trên đất để trả lại nguyên trạng cho thửa đất là đúng quy định pháp luật. Chi phí tháo dỡ, di dời tài sản do anh T, chị Quỳnh A tự chịu.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T, chị Quỳnh A có ý kiến thống nhất trong trường hợp phải tháo dỡ tài sản, công trình trên đất để trả lại mặt bằng thì anh, chị tự thỏa thuận giải quyết với ông Nguyễn Văn T2, nếu không thỏa thuận được sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ.

Đối với việc giải quyết hậu quả của việc tuyên hủy hợp đồng cho thuê mặt bằng đất ngày 19/01/2021 giữa ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2 với anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A thì do ông T2, bà H2, anh T, chị Quỳnh A đều đề nghị để tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không đề nghị Tòa án xem xét nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.

[2.2]. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất:

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc diện tích đất 358m² tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng đã được UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp GCNQSD đất số AÐ 777510 ngày 23/12/2005 cho hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2 có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn X và cụ Phạm Thị T4 (bố mẹ ông T2) để lại. Diện tích đất này được cụ X và cụ T4 mua lại của ông Phạm Văn T5 vào năm 1986. Ngày 12/5/1987, cụ X chết, do thói quen của một số người dân trên địa bàn xã thường gọi tên người vợ theo tên của chồng nên tại Sổ mục kê năm 1985 đã ghi đất của ông T5 “Chuyển bà X”.

Năm 1992, ông Nguyễn Văn T2 và bà Đỗ Thị H chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn. Ông T2, bà H sống cùng cụ T4 tại thửa đất nêu trên của cụ X và cụ T4. Khoảng năm 1994, cụ T4 cùng con gái là bà R và cháu Q chuyển về sinh sống cùng gia đình ông Nguyễn Văn T3 (anh trai ông T2) trên một thửa đất khác của cụ X.

Năm 2005, UBND xã Đ tổ chức đo đạc và lập hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất cho các hộ dân trong xã Đ trong đó có gia đình bà H, ông T2. Ngày 23/12/2005, hộ bà H, ông T2 được UBND huyện K cấp GCNQSD đất AÐ777510 đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, diện tích 358,0m². Theo chính quyền địa phương cung cấp thì diện tích theo GCNQSD đất của hộ bà H, ông T2 tăng so với diện tích đất theo bản đồ giải thửa năm 1980, số mục kê được lập năm 1985 là do sai số khi đo đạc.

Năm 2012 ông T2, bà H lập hợp đồng tặng cho anh Công quyền sử dụng 81m² đất thuộc thửa số 08, tờ bản đồ số 03 thôn P, xã Đ, huyện K. Ngày 03/4/2013, anh C được UBND huyện K cấp GCNQSD đất số BN 813202 đối với diện tích đất được tặng cho nêu trên.

[2.3]. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn T2 về việc đề nghị hủy GCNQSD đất số AÐ 777510, số vào sổ cấp GCNQSD đất số 00320/KT-05-Q1 tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, diện tích 358,0 m² do UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho hộ bà Đỗ Thị H, chồng Nguyễn Văn T2.

Căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ bà H, ông T2 thể hiện bà H là người làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (đơn xin đăng ký đề ngày 10/7/2005). Thời điểm bà H làm thủ tục xin cấp GCNQSD đất thì cụ X đã chết và không để lại di chúc, di sản chưa được phân chia; trong hồ sơ cấp đất không có văn bản nào thể hiện cụ X, cụ T4 cũng như các đồng thừa kế của cụ X đồng ý chuyển nhượng, tặng cho bà H, ông Thẩm quyền sử dụng đất. Như vậy, việc bà H tự ý làm thủ tục cấp GCNQSD đất khi chưa có sự đồng ý của cụ T4 và các đồng thừa kế của cụ X là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 về việc hủy GCNQSD đất số AÐ 777510 do UBND huyện K cấp ngày 23/12/2005 cho hộ bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T2 là có căn cứ.

[2.4]. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn T2 về việc hủy GCNQSD đất số BN813202 ngày 03/4/2013 do UBND huyện K cấp cho anh Nguyễn Đức C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Năm 2012, ông T2, bà H3 tách 81,0m² đất trong tổng diện tích 358,0m² đất tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 để tặng cho con chung là anh Nguyễn Đức C, việc tặng cho có lập hợp đồng và được UBND xã Đ xác nhận, có chữ ký của người làm chứng là ông Nguyễn Văn T3. Năm 2013, anh C được UBND huyện K cấp GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013. Như vậy, việc ông T2, bà H3 tặng cho anh C diện tích 81,0m² đất nêu trên là thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của ông T2, bà H3. Tuy nhiên, như đã phân tích tại Mục [2.3] thì ông T2 và bà H3 không phải là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03 nên không có quyền định đoạt đối với phần diện tích 81,0m² đất đã tặng cho anh C. Do đó, việc UBND huyện K cấp GCNQSD đất số BN 813202, số vào sổ cấp GCN: CH 00248 ngày 03/4/2013 cho anh C là không đúng quy định pháp luật, nên cần phải hủy GCNQSD đất do UBND huyện K đã cấp cho anh C.

[2.5]. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông T2 là đồng thừa kế của cụ X, cụ T4, bà H3 có công sức đóng góp nên ông T2, bà H3 có quyền lợi trong khối di sản của hai cụ và do việc tặng cho là đúng ý chí của ông T2, bà H3 nên ông T2, bà H3 phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, nếu sau này các đồng thừa kế của cụ X, cụ T4 khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật thì ông T2, bà H3 phải chịu trách nhiệm với các đồng thừa kế đối với phần diện tích đất 81m² mà ông T2, bà H3 đã tặng cho anh C; từ đó xác định trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất cho anh C là hợp pháp và tuyên không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T2 về việc đề nghị hủy GCNQSD đất cấp cho anh C là không đúng quy định pháp luật. Mặt khác, trong vụ án này các bên đương sự chỉ yêu cầu giải quyết về hợp đồng thuê đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất mà không yêu cầu giải quyết về di sản thừa kế của cụ X, cụ T4; Tòa án cấp sơ thẩm nhận định về kỷ phần thừa kế của ông T2, công sức đóng góp của bà H3 để xác định ông T2, bà H3 có quyền lợi trong khối di sản của cụ X, cụ T4 là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của các đương sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế của cụ X, cụ T4.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những sai sót nghiêm trọng về tố tụng, giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

[3]. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 16/12/2022 anh Nguyễn Đức C đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 08-1, tờ bản đồ số 03, diện tích 81 m² mang tên anh Nguyễn Đức C cho chị Phạm Thị N1 tại Văn phòng C1. Xét thấy, thửa đất trên đang có tranh chấp, trong hồ sơ cấp GCNQSD đất cho chị N1 không có xác nhận của chính quyền địa phương về việc tình trạng đất có tranh chấp hay không nhưng UBND huyện K vẫn thực hiện việc cấp GCNQSD đất cho chị N1 là vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Mặt khác, do GCNQSD đất cấp cho anh C là không đúng quy định pháp luật và cần thiết phải hủy, do đó cần cần phải hủy GCNQSD đất do UBND huyện K đã cấp cho chị Phạm Thị N1 theo hồ sơ chứng nhận quyền sở hữu số 00125.CN.001 ngày 30/3/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện K. Tuy nhiên, khi anh C chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị N1 thì thời điểm đó anh C đang đứng tên trong GCNQSD đất, chị N1 không biết thửa đất anh C chuyển nhượng có tranh chấp nên theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 133 Bộ luật Dân sự thì việc chị N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ anh C là ngay tình, được pháp luật bảo vệ. Do đó, khi giải quyết lại vụ án cần phải xem xét đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị N1.

[4]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đỗ Thị H là người đại diện theo ủy quyền của anh C xin rút nội dung yêu cầu khởi kiện buộc anh T, chị Quỳnh A phải trả lại diện tích đất cho anh C; đồng thời yêu cầu anh T, chị Quỳnh A phải tự tháo dỡ tài sản có trên đất để trả mặt bằng thửa đất cho chị N1. Như vậy, cần phải xác định đây là việc nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là chưa chính xác.

[5]. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, đánh giá không đúng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên xét thấy cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định pháp luật.

[6]. Về án phí: Do Bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm sẽ quyết định về án phí dân sự sơ thẩm khi giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết, xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí: Anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Quỳnh A, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả cho anh Vũ Văn T số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000270 ngày 23/10/2023, hoàn trả cho chị Nguyễn Quỳnh A số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000416 ngày 25/10/2023, hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T2 số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000415 ngày 20/10/2023, hoàn trả cho anh Nguyễn Văn K số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000414 ngày 20/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Án phí, tạm ứng án phí và chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

-VKSND cấp cao tại Hà Nội;

-TAND TP Hải Phòng;

-VKSND TP Hải Phòng;

- Cục THADS TP Hải Phòng;

-Các đương sự (theo địa chỉ);

-Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 210/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Đức C và BĐ: Vũ Văn T, Nguyễn Quỳnh A vụ án "Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger