Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ TẺH

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 30 – 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Loan

2/ Ông Phan Minh Đăng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với:

* Bị cáo: Mai Văn T – Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1993, tại: Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn C –Sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị P – Sinh năm 1963; Vợ: Bùi Thị T1, sinh năm 1989; Con: Chưa có; Tiền sự: Không. Tiền án: có 02 tiền án:

+ Ngày 19/12/2018 bị TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 18/4/2019 bị TAND huyện Đạ Tẻh xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt của 02 Bản án là 20 tháng tù, chưa được xoá án tích.

+ Ngày 07/01/2021 bị TAND huyện Đạ Tẻh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.

* Người làm chứng:

* Người làm chứng: Bà Vũ Thị H – Sinh năm 1978, Địa chỉ: TDP F, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “ Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 15/3/2024, Công an thị trấn Đ, huyện Đ bắt quả tang Mai Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tại phòng nghỉ số 07, nhà nghỉ L thuộc TDP F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do bà Vũ Thị H quản lý. Tang vật tạm giữ gồm: 01 (một) ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, có kích thước 04cm x 01cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: một chai nước, trên nắp chai được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút bằng nhựa màu xanh, một lỗ được cắm một ống thuỷ tinh được uốn cong, một đầu hình bầu dục, bên trong có chứa chất rắn màu nâu. Công an thị trấn Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật theo quy định và chuyển hồ sơ, đối tượng cùng tang vật cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra Mai Văn T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma tuý đá và có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên vào tối 14/03/2024, T đi một mình ra huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để tìm mua ma tuý. Khi đến bờ hồ ở thị trấn M, huyện Đ thì T gặp bạn tù trước đây của T tên M nhưng T không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể của M, T hỏi M có ma tuý đá bán không thì M nói có nên T đã mua của M 01 (một) tép ma tuý đá được để trong một ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu với số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng). Mua ma tuý xong T cất giấu vào trong người rồi mang về nhà ở Thôn B, xã Đ, huyện Đ để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 15/03/2024, T mang theo ống hút nhựa chứa ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá T chuẩn bị từ trước (trong ống thủy tinh vẫn còn một ít ma tuý dư của lần trước chưa sử dụng hết) đến nhà nghỉ L ở TDP F, thị trấn Đ, huyện Đ để sử dụng. Khi đến nơi T thuê phòng nghỉ số 7 của nhà nghỉ L rồi vào trong phòng, để bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cùng ống nhựa chứa ma túy trên mặt tủ gỗ trong phòng để chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn Đ kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Kết quả thử test nước tiểu ngày 15/3/2024, xác định: Mai Văn T dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 373/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

+ Mẫu tinh thể đựng trong một ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,3955g (không phẩy ba chín năm năm gam), loại Methamphetamine.

+ Chất bám dính trong bầu tròn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ khối lượng để cân.

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSĐT ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 06 (Sáu) năm đến 07 (Bảy) năm tù và không đề nghị án dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và về án phí.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều traviên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy địnhcủa Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nạivề hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểmsát thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, đã có 02 (hai) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xáo án tích. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào tối ngày 14/3/2024 bị cáo đi ra huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mua 01 (một) tép ma tuý của một người tên M mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 15/03/2024, bị cáo mang theo ống hút nhựa chứa ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (trong ống thủy tinh vẫn còn một ít ma tuý dư của lần trước chưa sử dụng hết) đến thuê phòng số 07, tại nhà nghỉ L thuộc Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ để sử dụng. Khi đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị cáo bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ khối lượng 0,3955g (không phẩy ba chín năm năm gam) ma túy, loại Methamphetamine. Qua lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý vào ngày 15/3/2024 của bị cáo T thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, do đó đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Tại phiên toà, bị cáo T khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma tuý, bị cáo nhận thức được tác hại của các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý mua ma tuý về

để sử dụng, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Về nhân thân: Năm 2018 bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2019 bị cáo tiếp tục bị xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt của 02 Bản án là 20 tháng tù, chưa được xoá án tích; Năm 2021 bị cáo bị xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nhằm tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, đối với người tên M đã bán ma túy cho bị cáo T nhưng bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, không biết địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp. Còn đối với bà Vũ Thị H, do lúc bị cáo T thuê phòng nghỉ, bà H không biết mục đích của bị cáo thuê phòng để sử dụng ma túy nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

[4] Về vật chứng của vụ án: 02 (Hai) phong bì được niêm phong, có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C1”, “Nguyễn Phi H1” và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L, bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,2719g. Xét thấy, đây là vật chứng cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 3 năm 2024.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì được niêm phong, có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C1”, “Nguyễn Phi H1” và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L, bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,2719g. Chi tiết của vật chứng trên được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/5/2024 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND huyện Đạ Tẻh;
  • - Công an huyện Đạ Tẻh;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Dương Văn Hùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Loan

Phan Minh Đăng

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Dương Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger