Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 29-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên.

Ông Hà Minh Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh ngày 10/8/2003; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ học vấn: 02/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984 và bà Trần Thị C, sinh năm 1982;

Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà Tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 01/02/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Trần Quốc N, sinh năm 1971. Có mặt

Trú tại: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 29/01/2024, Nguyễn Văn K thuê xe ôm của người lạ mặt đi đến thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang để tìm mua ma túy. Khỏe ngồi uống cà phê ở khu phố M, thị trấn M thì gặp đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch). Qua trao đổi, nghe T nói có bán ma túy đá nên K hỏi mua với số tiền 3.500.000 đồng thì T đồng ý bán. Tánh hẹn gặp K tại Phòng khám Đ thuộc khu phố M, thị trấn M để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 23 giờ cùng ngày, K thuê xe ôm của người lạ mặt đến Phòng khám Đ, K đứng đợi khoảng 20 phút thì T đi đến giao cho K 01 (Một) bịch nylon, bên trong có chứa ma túy đá và K đưa cho T số tiền 3.500.000 đồng. Sau đó, K dùng điện thoại di động gọi cho Tần Quốc N1 là người chạy xe ôm ngụ ấp L, xã H, huyện A kêu lên rước Khỏe về nhà nghỉ H thuộc ấp X, xã H, huyện A với giá 200.000 đồng. Một lúc sau, N1 điều khiển xe 68B1-274.98 đến chở K về. Trên đường về Khỏe đánh rơi mất điện thoại di động không xác định được mất ở đoạn đường nào. Đến khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 30/01/2024, khi N1 điều khiển xe qua dốc cầu C đoạn thuộc ấp X, xã H, huyện A thì bị lực lượng Công an huyện A kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Văn K đang cầm trên tay phải 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài màu trắng, kích thước 10,5cm x 07cm, bên trong chứa 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5cm x 04cm chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong theo quy định.

  • * Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài màu trắng, kích thước 10,5cm x 07cm, bên trong chứa 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5cm x 04cm chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy.
  • * Tại Kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa bên trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 10,0911 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

  • * Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSHAB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn K từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma tuý còn lại sau giám định theo quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 29/01/2024, Nguyễn Văn K tìm gặp đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch) để mua túy với số tiền 3.500.000 đồng tại khu vực Phòng khám Đ thuộc khu phố M, thị trấn M Sau đó, K dùng điện thoại di động gọi cho Trần Quốc N là người chạy xe ôm ngụ ấp L, xã H, huyện A kêu lên rước Khỏe về nhà nghỉ H thuộc ấp X, xã H, huyện A. Đến khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 30/01/2024, khi N điều khiển xe qua dốc cầu C đoạn thuộc ấp X, xã H, huyện A thì bị lực lượng Công an huyện A kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Văn K đang cầm trên tay phải 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài màu trắng, kích thước 10,5cm x 07cm, bên trong chứa 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5cm x 04cm chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong theo quy định. Theo Kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 10,0911 gam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này.

Đối với tên T là người bán ma túy cho bị cáo không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 10,0460 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 91/2024.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K, 06 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 01/02/2024.

  2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 10,0460 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 91/2024.

    (Theo quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKSHAB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - THA Dân sự, Hình sự;
  • - NTG; CA huyện An Biên;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tôi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger