|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày 28-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quý Hòa;
Ông Phạm Minh Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Văn P; tên gọi khác: không; sinh năm 1968, tại H, Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn M (đã chết); con bà: Đào Thị P1 (sinh năm 1922); có vợ: Phan Thị Kim H (sinh năm 1969) và 04 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc M1; tên gọi khác: không; sinh năm 1969, tại H, Bình Định; nơi thường trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc C (là Liệt sĩ); con bà: Lê Thị T (sinh năm 1932); có vợ: Trần Thị Bạch T1 (sinh năm 1972, đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/8/2007, bị Toà án nhân dân huyện Hoài Ân tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Họ và tên: Huỳnh Ngọc A; tên gọi khác: Không; sinh năm 1969, tại H, Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Ngọc T2 (đã chết); con bà: Trần Thị Đ (sinh năm 1935); có vợ: Trương Thị H1 (sinh năm 1968) và 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/7/2020, bị Công an xã Â, huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Họ và tên: Phan Đình N; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại H, Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Đình T3 (sinh năm 1967); con bà: Cao Thị H2 (sinh năm 1955); có vợ: Nguyễn Thị Hồng S (sinh năm 1986) và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/8/2016, bị Toà án nhân dân huyện Hoài Ân tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Họ và tên: Lê Tấn Đ1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1984, tại H, Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Tấn T4 (chết); con bà: Đỗ Thị Kim L (chết); có vợ: Đỗ Thị P2 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Đinh Văn D, sinh năm 1963;
Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt. - Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt. - Bà Trần Thị Thanh N1, sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Hoàng Thị H3, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt. - Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt. - Ông Nguyễn Quốc D1, sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Trần Tiến Đ2, chức vụ: Cán bộ Công an thị trấn T, huyện H;
Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. - Ông Lý Vĩnh T8, chức vụ: Cán bộ Công an thị trấn T, huyện H;
Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. - Ông Lê Tấn T9, chức vụ: Phó Trưởng Công an xã Â1, huyện H;
Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08h00 ngày 05/01/2023, Lê Văn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, không có biển kiểm soát đến nhà Nguyễn Ngọc M1 để uống nước trà thì có Huỳnh Ngọc A đến và cùng ngồi uống trà. Lúc này, P đi mua 02 chai rượu trắng về cùng M1, A ngồi uống. Trong lúc uống rượu, Anh có hỏi Phước sao không đi làm thì P nói bị Nguyễn Văn T6 chửi, đánh, làm khổ cực đến trưa mới cho ăn và không chịu trả tiền thì Anh không tin nên P lấy điện thoại di động gọi cho Nguyễn Văn T6 và bật loa ngoài để A và M1 cùng nghe. T6 bắt máy, chửi thề và nói "Tao không trả tiền mầy gọi tao làm gì" rồi tắt máy. M1 nghe T6 nói vậy thì nói với P: "Con với dượng lên thử, sao mà nó đòi đánh". Nói xong M1 lấy điện thoại gọi điện cho Nguyễn Quốc D1 nói: "Qua nhà tao uống rượu" rồi tắt máy. Lúc này, Nguyễn Văn T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu trắng, biển kiểm soát 77K1-369.46 đi ngang qua nhà M1 và ghé vào cùng uống rượu với P, A, M1. Trong lúc uống rượu, P có kể cho T7 nghe việc T6 nợ tiền nhưng không trả. Tiếp nghe xong nói: "Thằng T6 lúc trước giết người có dô nhà tui ở, sau đó bị bắt, giờ lên tui biểu nó đưa tiền cho anh", nói rồi P, A, M1, T7 tiếp tục ngồi uống rượu.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày 05/01/2023, Nguyễn Quốc D1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh đậm, biển kiểm soát 77K1-1016 chở Lê Tấn Đ1; Phan Đình N điều khiển xe nhãn hiệu Sirius, màu xám, biển kiểm soát 77K1-374.67 đến nhà M1. D1, Đ1, N vào cùng ngồi uống rượu với những người nêu trên. Trong lúc uống rượu, P tiếp tục nói về việc T6 nợ tiền làm công của P nhưng không trả và nói "Giờ đi lên gặp thằng T6 hỏi sao nó đánh tao, sao không trả tiền cho tao", nghe vậy thì A, M1, T7, D1, Đ1, N đều đồng ý. P biết T6 đang làm cửa gỗ cho gia đình Đinh Văn D ở thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; trước đó P có làm công cho T6 tại nhà D nên P điều khiển xe SH Mode của T7 chở T7 đi trước, A điều khiển xe của Anh chở M1, N điều khiển xe máy của N đi một mình, D1 điều khiển xe máy của P chở Đ1. Lúc này khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày 05/01/2023, P và T7 đến dựng xe mô tô ở ngoài đường trước cổng nhà D rồi P, T7 đi vào nhà. Lúc này trong nhà D có D, Nguyễn Thị T5 (vợ D), Hoàng Thị H3 (con dâu của D), D mời P và T7 vào uống nước trà tại bộ bàn ghế đá ở sân nhà. P hỏi: "Thằng T6 đâu" thì T5 trả lời: "T6 đi Đà Nẵng kiện tụng gì đó". Nghe vậy P nói: "Em lên em hỏi tiền, giờ nó không trả tiền em thì em lấy cửa", vợ chồng D nghe vậy nói: "Không được, cửa là của tôi, cái gì của ông T6 thì chú lấy". P nói: "Để em xem cái nào gỗ của anh D thì em để lại, cái nào của thằng T6 thì em chở đi hết". Trong lúc P nói chuyện với vợ chồng D thì N, M1, A đứng ở ngã ba gần chợ L1, Anh nói với N: "Mầy chờ thằng M1 vô đó đi" thì N điều khiển xe chở M1, A cũng điều khiển xe vào nhà D. M1, A đi vào đến đứng ở sân nhà D, còn N đứng ngoài đường trước cổng nhà D. Khi M1 vào sân gặp D thì M1 nói: "Anh D, anh có biết em không, em là em của bà H4 làm cấp dưỡng cho C1", rồi M1 tiếp tục nói với P: "Cái nào của thằng T6 là lấy hết, còn cánh cửa mướn xe lên chở về", D nghe vậy thì nói: "Đồ thợ mộc thì tôi không biết, riêng tấm cửa là của tôi để lại cho tôi, không chở được" nghe vậy M1 trả lời: "Thâu cái nào của thằng T6 là lấy hết, cái nào của anh D thì để lại không có chở". Nghe vậy, P lấy 01 cái bao cám cò loại lớn gom các dụng cụ làm mộc của T6 để tại nhà D bỏ vào trong bao. H3 thấy vậy nói với P: "Chú muốn chở cái gì ra khỏi nhà thì chờ chú T6 về rồi giải quyết, còn đồ trong nhà con thì chú không được chở đi đâu hết". P nói: "Để chú chở đi về dưới rồi thằng T6 nó xuống chuộc về chứ không có sao đâu" và cầm bao đựng dụng cụ làm mộc của T6 đến để gần bộ bàn ghế đá nhà D. H3 thấy vậy đến xách bao đựng dụng cụ làm mộc của T6 để lại gần cửa sổ nhà D sau đó kéo cửa cổng lại, lấy ổ khóa khóa cửa cổng, gọi điện thoại báo cho T6 biết và đi báo cáo Công an xã Â1, huyện H. Sau khi H3 đi báo cáo Công an xã Â1 thì P đến xách bao cám cò đựng dụng cụ làm mộc của T6 đưa qua hàng rào để lên xe máy cho N chở đi về, ra đến ngã ba chợ L1 thì gặp Đ1 với D1, N để bao đựng dụng cụ làm mộc (của T6) xuống cho Đ1 giữ rồi N cùng D1 điều khiển xe quay trở lại trước nhà D. Trong lúc N chở bao đựng dụng cụ làm mộc của T6 đi thì P tiếp tục lấy máy cắt bàn đưa qua hàng rào để lên yên xe của A, A hỏi: "Chở về bỏ ở đâu?", P trả lời "Bỏ ở nhà tao, ra ngoài kia chở bao đồ về luôn", Anh hỏi: "Ở chỗ nào?", P nói: "Ra chỗ ngã ba có lũ nó đứng ngoài đó". Anh đồng ý và điều khiển xe chở máy cắt bàn đi đến chỗ Đ1, lấy bao đồ để lên ba ga xe, Đ1 ngồi sau giữ máy cắt bàn để Anh chở về nhà P. P tiếp tục đến kéo bình nén khí ra đến hàng rào lưới B40 cao 0,72m, bà T5 đang ẵm cháu thấy vậy nên kéo giành lại khi P cùng đồng bọn khiêng đi nhưng không được nên miễn cưỡng để P và cùng M1 đạp hàng rào khiêng ra để trên đường bên hông nhà D. Khi D1 và N điều khiển xe đến thì P, M1 và N khiêng máy bơm hơi để lên xe của D1 điều khiển cho D1 chở đi về. Sau đó, P, M1, N, T7 cũng đi khỏi nhà D. D1 đi được một đoạn khoảng 500m thì đổi cho N chở bình hơi về, D1 qua đi xe với M1 tiếp tục đi về hướng thị trấn T. Khi đến đoạn đường trước nghĩa trang L2 thuộc thôn A, xã Â, huyện H, Phan Đình N đang chở bình hơi thì bị lực lượng Công an xã Â1 yêu cầu dừng xe và chở trả lại đồ. Lúc này, P, T7, M1, D1 cũng dừng xe lại. M1 có nói: "Đồ của anh, để anh đi" nhưng lực lượng Công an không đồng ý và giữ đầu xe của N. M1 nói với P "Kéo đi". P đến kéo bình hơi làm bình hơi rớt xuống đường, P lớn tiếng nói: "Đồ của tao, không cho tao chở về, tao đập" và có nói với lực lượng Công an "bắt ở tù tui chịu" rồi kéo bình hơi đi về hướng thị trấn T, huyện H. N điều khiển xe chở M1 ngăn cản lực lượng Công an, M1 nói với P: "Mầy cứ kéo đi đi". Khi P và những người cùng đi đến trước nhà số A đường L thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện H thì có 03 đồng chí Công an thị trấn T đến và yêu cầu P dừng lại, P dừng lại và kéo bình hơi để trên vỉa hè, M1, N, D1 cũng dừng lại theo, lúc này T7 đã điều khiển xe đi về trước. P tiếp tục la lối, lớn tiếng thách thức lực lượng Công an không chịu hợp tác và nói: "Nó nợ tiền tao nhưng không chịu trả nên tao mới lấy để cấn nợ". Khoảng 15 phút sau thì có tổ công tác của Công an huyện H đến làm việc, P vẫn tiếp tục lớn tiếng la lối, cho rằng T6 nợ tiền nhưng không trả nên P lấy đồ để cấn nợ. Tổ công tác của Công an huyện giải thích cho P và những người đi cùng việc siết nợ là vi phạm pháp luật. Sau khoảng 10 phút thì P và những người đi cùng P tự ý bỏ đi, để lại xe mô tô kiểu dáng D2 cùng bình hơi.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐ GTS ngày 19/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt nêu trên tại thời điểm ngày 05/01/2023 là 6.080.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) máy cắt bàn, nhãn hiệu CROWN MIFERSAW CT15111, số seri 14122500008, màu xám; 01 (một) máy chà cầm tay, nhãn hiệu MAKITA, màu xanh; 01 (một) máy dùi cầm tay, nhãn hiệu SENCAN 702503, màu đỏ, 190W; 01 (một) máy khoan cầm tay, nhãn hiệu BOSCH professional GSP 16 RE, 750w, màu đen; 1 (một) máy bào cầm tay, nhãn hiệu bị bong tróc, màu xanh xám; 01 (một) máy rung cầm tay, nhãn hiệu MAKITA 9035, 160W, màu xanh; 01 (một) máy phay cầm tay, nhãn hiệu SAFUN có ốp nhựa màu đỏ; 01 (một) máy tăng cầm tay, nhãn hiệu bị bong tróc, màu xám; 01 (một) máy bắn đinh cầm tay, nhãn hiệu JOK, màu đen; 01 (một) cái búa có chiều dài 33cm, đầu búa bằng kim loại kích thước (14×5×2)cm, cán bằng nhựa, màu vàng, kích thước (28×2×1,5)cm; 01 (một) máy bơm nén khí, màu xanh bằng kim loại có dãn nhãn hiệu “PUMA", Model PK-1060, công suất 1-0.75 (HP-KW), dài 85cm, cao 69cm, rộng 30cm, gồm 04 phần: mô tơ, đầu nén khí, đồng hồ đo áp, bình tích khí do Lê Văn P giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Hiện còn tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu TECHNIC, màu nâu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy RPT0515FMG00112693, không có bừng chắn gió, không có gương chiếu hậu.
Về dân sự: Bị hại Đinh Văn D, Nguyễn Thị T5 không có yêu cầu gì. Nguyễn Văn T6 đã nhận lại tài sản và yêu cầu bồi thường khoản tiền sửa chữa dụng cụ làm mộc bị hư hỏng số tiền 8.000.000 đồng. Các bị cáo Lê Văn P, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N đã tự nguyện khắc phục hậu quả mỗi người 2.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Ngọc M1, Lê Tấn Đ1 khắc phục 2.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6 tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSHA ngày 14/02/2024 của VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 đã thừa nhận phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tại phiên tòa, các bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn P có mức án từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M1 có mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc A có mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 có mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu TECHNIC, màu nâu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy RPT0515FMG00112693, không có bừng chắn gió, không có gương chiếu hậu theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6, Trần Thị Thanh N1 chỉ yêu cầu các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, là chi phí sửa chữa các bị cáo chiếm đoạt bị hư hỏng nên phải sửa chữa với số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng. Yêu cầu này đã được các bị cáo chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự thoả thuận của hai bên.
Bị hại Đinh Văn D, Nguyễn Thị T5 nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện VKSND huyện Hoài Ân, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Văn P và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6, Trần Thị Thanh N1 nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện VKSND huyện Hoài Ân, yêu cầu bồi thường số tiền 8.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử xác định tư cách tham gia tố tụng của ông T6, bà N1 là bị hại trong vụ án.
Các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, VKSND huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người chứng kiến Lý Vĩnh T8, Trần Tiến Đ2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Người làm chứng Hoàng Thị H3, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Quốc D1; người chứng kiến Lê Tấn T9 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai đầy đủ của họ. Việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, người chứng kiến; với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc Lê Văn P cho rằng ông Nguyễn Văn T6 có nợ tiền công nhưng không trả cho P, nên khoảng 10 giờ 15 phút ngày 05/01/2023, các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 có hành vi đi đông người lên nhà ông Đinh Văn D ở thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định trong tình trạng đã sử dụng rượu bia để tìm ông Nguyễn Văn T6 là người được gia đình ông Đinh Văn D, Nguyễn Thị T5 thuê làm mộc để nói chuyện. Trong quá trình làm tại nhà ông D, khi kết thúc ngày làm việc ông T6 để đồ nghề tại nhà ông D. Ông D, bà T5 xác định có trách nhiệm quản lý, bảo quản dùm. Do không gặp được Nguyễn Văn T6 nên Lê Văn P đã nảy sinh ý định lấy tài sản để buộc ông T6 trả nợ. Các bị cáo đã có những lời nói với gia đình ông D về việc lấy tài sản của ông T6. Gia đình ông D, bà T5 và Hoàng Thị H3 đã có lời nói, hành động ngăn cản việc các bị cáo lấy tài sản đi, cụ thể: H3 xách bao mà bị cáo P gom lấy tài sản trước đó bỏ gần cửa sổ rồi ra kéo, khóa cổng, đi báo Công an giải quyết. bà T5 đang ẵm cháu đã kéo giành lại bình hơi khi P cùng đồng bọn khiêng đi nhưng không được. Mặt khác, trong quá trình lấy tài sản tại nhà ông D, khi bị gia đình ông D ngăn cản, P đã có lời nói đe dọa: “Nếu hôm nay không cho lấy thì hôm sau sẽ lớn chuyện” đã làm cho những người trong gia đình ông D lo sợ nên miễn cưỡng để các bị cáo lấy tài sản đi. Như vậy, mặc dù gia đình bị hại đã ngăn cản, kéo, khóa cổng và chọn phương án là đi báo cáo Công an để giải quyết nhưng các bị cáo đã có lời lẽ đe dọa và kiên quyết thực hiện hành vi cho đến cùng, khiêng tài sản qua hàng rào để chở tài sản đi về nhà P nhằm mục đích buộc Nguyễn Văn T6 xuống trả tiền, chuộc lại tài sản. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt nêu trên tại thời điểm ngày 05/01/2023 là 6.080.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N và Lê Tấn Đ1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo ý thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, hành vi của các bị cáo chỉ bộc phát nhất thời nên khi quyết định hình phạt, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm với vai trò ngang nhau và có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Ngọc M1 có vai trò là người thực hành tích cực; các bị cáo Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 đã thấy, biết việc P lấy tài sản tại nhà ông Đinh Văn D không phải là tài sản của P nhưng vẫn giúp sức cho P lấy tài sản do vợ chồng ông Đinh Văn D đang quản lý. Do đó, cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo để cải tạo, giáo dục thành công dân tốt và làm gương cho những người khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện tạm nộp số tiền 8.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân để khắc phục hậu quả đã gây ra nên cần áp dụng tình tiết theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Ngọc M1 là con của Liệt sĩ và có mẹ là Mẹ Việt Nam Anh hùng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Ngọc A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ gia đình có công cách mạng; bị cáo Lê Văn P được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mặt khác, xét thấy các bị cáo từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Bị hại Đinh Văn D, Nguyễn Thị T5 không có yêu cầu gì.
[6.2] Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6, Trần Thị Thanh N1 chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa máy móc bị hư hỏng với tổng số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng, yêu cầu này đã được các bị cáo chấp nhận nên Hội đồng xét xử cần tuyên buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn T6, bà Trần Thị Thanh N1 tổng số tiền 8.000.000 đồng là phù hợp. Theo phần các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N và Lê Tấn Đ1, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.600.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 8.000.000 đồng mà bị cáo Lê Văn P, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Nguyễn Ngọc M1 và Lê Tấn Đ1 đã tạm nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 00033 14 ngày 01/3/2024; các biên lai thu tiền số 0003317, 0003316, 0003315 cùng ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân để đảm bảo thi hành án.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu TECHNIC, màu nâu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy RPT0515FMG00112693, không có bừng chắn gió, không có gương chiếu hậu là công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Các vấn đề khác:
[8.1] Đối với Nguyễn Văn T7, trước khi đến nhà Đinh Văn D thì P không có bàn bạc gì với T7 về việc đến nhà D lấy dụng cụ làm mộc của Nguyễn Văn T6 để siết nợ. Khi đến nhà D, T7 không có lời nói, hành động gì giúp P lấy dụng cụ làm mộc của T6 để siết nợ. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn T7 không đồng phạm về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự.
[8.2] Đối với Nguyễn Quốc D1, trước khi đến nhà Đinh Văn D thì P không bàn bạc gì với D1 về việc lấy dụng cụ làm mộc của T6 để siết nợ. Khi đến thôn L, xã Â, huyện H thì D1 và Đ1 đứng ngoài đường không biết nội dung câu chuyện nói qua lại giữa gia đình D với P, M1. Sau khi được N dẫn đến nhà D chở bình nén hơi đến khi có lực lượng Công an ngăn cản thì D1 mới biết tài sản không phải là của P mà là của người khác, P lấy để siết nợ. Do đó, hành vi của Nguyễn Quốc D1 không đồng phạm về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự.
[8.3] Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn T6, bà Trần Thị Thanh N1 yêu cầu Hội đồng xét xử xác định tư cách tham gia tố tụng của ông, bà là bị hại trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt, mặc dù là thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T6, bà Trần Thị Thanh N1. Tuy nhiên, ông T6, bà N1 là người được gia đình ông D thuê làm mộc, sau khi kết thúc ngày làm việc, ông T6, bà N1 gửi số tài sản nêu trên tại nhà ông Đinh Văn D, vợ chồng ông D có trách nhiệm quản lý số tài sản đó. Trưa ngày 05/01/2023 các bị cáo đến nhà ông D có lời nói, hành động đe dọa gia đình ông D để lấy tài sản nên Hội đồng xét xử đã xác định ông Đinh Văn D, bà Hoàng Thị H3 là bị hại; ông Nguyễn Văn T6 bà Trần Thị Thanh N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu nêu trên của ông Nguyễn Văn T6, bà Trần Thị Thanh N1 Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Ngọc M1, Lê Tấn Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Văn P;
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M1;
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc A;
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Phan Đình N, Lê Tấn Đ1;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 đồng phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Lê Văn P 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/6/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/6/2024.
2.3. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc A 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/6/2024.
2.4. Xử phạt bị cáo Phan Đình N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/6/2024.
2.5. Xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/6/2024.
Giao các Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Phan Đình N, Huỳnh Ngọc A và Lê Tấn Đ1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 phải liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6, Trần Thị Thanh N1, số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng. Theo phần các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N và Lê Tấn Đ1, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo Lê Văn P đã tạm nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0003314 ngày 01/3/2024; số tiền 2.000.000 đồng các bị cáo Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N đã tạm nộp khắc phục hậu quả theo các biên lai thu số 0003317, 0003316 ngày 04/3/2024; số tiền 2.000.000 đồng các bị cáo Nguyễn Ngọc M1, Lê Tấn Đ1 đã tạm nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0003315 ngày của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu TECHNIC, màu nâu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy RPT0515FMG00112693, không có bừng chắn gió, không có gương chiếu hậu.
Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
5. Về án phí: Các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Ngọc M1, Huỳnh Ngọc A, Phan Đình N, Lê Tấn Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Ngọc M1, Lê Tấn Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
6.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Nam |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Phước - Cưỡng đoạt tài sản
