Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 21/2024/KDTM-ST

Ngày: 26 - 7 - 2024

V/v: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Công Danh;
Bà Lê Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2023/TLST-KDTM ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QĐST – DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH T1.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Minh D - Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ trụ sở: số C N, tổ E, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Hoàng Thái N, sinh năm 1980. (có mặt)

Nơi cư trú: 118, tổ G, khu phố B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương

- Bị đơn: Công ty TNHH G (vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H - Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ trụ sở: Số G, tổ G, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2023 của Công ty TNHH T1 (sau đây gọi là Nguyên đơn) cùng trình bày của ông Phạm Minh D là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Ngày 05/10/2022, Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng số 01.10/2022/HĐKT với Công ty TNHH G (gọi tắt là Công ty G).

Theo nội dung hợp đồng, Công ty T1 chịu trách nhiệm cung ứng gỗ cao su xẻ sấy cho bên Công ty G và Công ty T1 đã giao hàng cho Công ty G. Sau khi ký hợp đồng, phía Công ty T1 đã tiến hành giao hàng đơn hàng đầu tiên cho bên Công ty G và đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 9, ký hiệu 1C22TGK ngày 07/10/2022, theo quy định tại khoản 2 của hợp đồng và các phiếu giao hàng như sau:

  • Phiếu giao hàng ngày 22/11/2022 với số tiền 148.680.890đ (một trăm bốn mươi tám triệu sáu trăm tám mươi ngàn tám trăm chín mươi đồng).
  • Phiếu giao hàng ngày 24/11/2022 với số tiền 84.646.800đ (tám mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn tám trăm đồng).
  • Phiếu giao hàng ngày 05/12/2022 với số tiền 98.122.320đ (chín mươi tám triệu một trăm hai mươi hai ngàn ba trăm hai mươi đồng).

Tuy nhiên Công ty G chỉ thanh toán được một phần giá trị của hóa đơn và xin thanh toán theo hình thức gối đầu.

Do phía Công ty G chưa thanh toán hết số tiền trên hóa đơn của đơn hàng đầu tiên, nên các bên thống nhất khi nào thanh toán hết tiền hàng của đơn hàng nào thì bên Công ty T1 sẽ xuất hóa đơn giá trị gia tăng của đơn hàng đó; các đơn hàng tiếp theo thì không cần phải ký lại hợp đồng (như đơn hàng đầu tiên), mà chỉ cần đặt hàng qua điện thoại hoặc email.

Đến ngày 31/12/2022, sau khi cân đối sổ sách kế toán thì Công ty G còn nợ 03 (ba) đơn hàng với số tiền 331.450.010đ (ba trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn không trăm mười đồng). Số tiền này là tiền hàng và chưa có thuế giá trị gia tăng.

Công ty G đã có văn bản xác nhận “công nợ gỗ G”, “Biên bản gia hạn nợ” và đưa ra 03 mốc thời gian để thanh toán.

Sau khi xác nhận nợ, Công ty G đã thanh toán cho Công ty T1 được 02 lần:

  • Lần 1: Ngày 06/01/2023 thanh toán 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản.
  • Lần 2: Ngày 19/01/2023 thanh toán 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản (còn thiếu lại 10.000.000đ (mười triệu đồng) so với giấy gia hạn nợ)

Nay công ty T1 yêu cầu Công ty G phải thanh toán tổng số tiền 157.882.011đ (một trăm năm mươi bảy triệu tám trăm tám mươi hai ngàn không trăm mười một đồng), trong đó: Số tiền hàng còn lại chưa thanh toán là 121.450.010đ (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn không trăm mười đồng); T giá trị gia tăng của tổng số tiền hàng còn nợ theo giấy nhận nợ là 26.516.010 (hai mươi sáu triệu năm trăm mười sáu ngàn không trăm lẻ một đồng); Và khoản tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tạm tính từ tháng 02/2023 đến thời điểm nộp đơn khởi kiện (08 tháng) với lãi suất 1% trên số tiền chưa thanh toán: 121.450.010 x 1% x 8 tháng = 9.716.000đ (chín triệu bảy trăm mười sáu ngàn đồng).

* Đối với bị đơn Công ty TNHH G: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH G không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ bản tự khai tài liệu, chứng cứ nào liên quan đến vụ án mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thành toán số tiền gốc là 121.450.010đ và lãi chậm thanh toán tính từ tháng 2/2023 đến nay chỉ tính 15 tháng và mỗi tháng tính lãi suất là 0,8% là 121.450.010đ x 0,8%/tháng x 15 tháng = 14.574.001 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 136.024.011 đồng. Xin rút yêu cầu Bị đơn trả số tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền còn nợ là 26.516.001 đồng

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Do bị đơn là Công ty TNHH G vi phạm thời hạn thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng kinh tế số 01.10/2022/HĐKT ngày 05/10/2022, 03 phiếu giao hàng và bản đối chiếu công nợ và biên bản gia hạn nợ của bị đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì xét thấy Công ty TNHH G có mua bán hàng hóa của Công ty TNHH T1 là có thật. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán nợ gốc và tiền lãi do chậm thanh toán là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền hàng còn lại chưa thanh toán là 121.450.010đ (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn không trăm mười đồng). Về tiền lãi chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại cùng các biên bản xác minh tại 03 ngân hàng, do Nguyên đơn chỉ yêu cầu Bị đơn trả lãi chậm thanh toán là 0,8%/tháng và yêu cầu tính 5 tháng là có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Nguyên đơn xin rút đối với yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền hàng còn nợ theo giấy nhận nợ là 26.516.010đ (hai mươi sáu triệu năm trăm mười sáu ngàn không trăm lẻ một đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu rút. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi do chậm thanh toán tiền mua bán hàng hóa. Bị đơn có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 357, 430, 440 Bộ luật dân sự và Điều 306 của Luật thương mại năm 2005, xác định đây là quan hệ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn Công ty TNHH G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH G.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Về nội dung tranh chấp và yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Công ty TNHH T1 yêu cầu Công ty TNHH G thanh toán nợ gốc là 121.450.010 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 05/10/2022, nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng kinh tế số 01.10/2022/HĐKT ngày 05/10/2022 với nội dung Công ty TNHH T1 bán gỗ cao su xẻ sấy cho Công ty TNHH G với số tiền 87.423.600 đồng. Ngày 07/10/2022 Công ty TNHH T1 xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 9 cho Công ty TNHH G với tổng số tiền 94.417.488 đồng.

Tại phiếu giao hàng ngày 22/11/2022 giữa Công ty TNHH T1 và Công ty TNHH G thể hiện nguyên đơn đã giao hàng cao su thân cho bị đơn với tổng giá trị thành tiền là 148.680.890 đồng.

Tại phiếu giao hàng ngày 24/11/2022 giữa Công ty TNHH T1 và Công ty TNHH G thể hiện nguyên đơn đã giao hàng cao su thân cho bị đơn với tổng giá trị thành tiền là 136.681.300 đồng.

Tại phiếu giao hàng ngày 05/12/2022 giữa Công ty TNHH T1 và Công ty TNHH G thể hiện nguyên đơn đã giao hàng cao su thân cho bị đơn với tổng giá trị thành tiền là 98.122.320 đồng.

Tại bản đối chiếu công nợ giữa Công ty TNHH T1 và Công ty TNHH G không đề ngày tháng xác nhận công nợ của 03 phiếu giao hàng trên thể hiện bị đơn còn nợ của nguyên đơn tổng công nợ là 331.450.010 đồng. Tại biên bản gia hạn nợ của Công ty TNHH G gửi cho Công ty TNHH T1 không đề ngày tháng năm có nội dung:

“Công ty TNHH G nợ Công ty T1 đến ngày 31/12/2022 số tiền: 331.450.010đ (Ba trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi nghìn không trăm mười đồng)

Công ty TNHH G sẽ thanh toán số tiền trên theo kế hoạch như sau:

  • Ngày 06/01/2023: Thanh toán 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng)
  • Ngày 14/01/2023: Thanh toán 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng)
  • Ngày 19/01/2023: Thanh toán 111.450.000đ (Một trăm mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng)”

Tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn vào ngày 06/01/2023 là 110.000.000 đồng, ngày 19/01/2023 là 100.000.000 đồng.

Xét thấy, đối chiếu với 03 phiếu giao hàng các ngày 22/11/2022, 24/11/2022 và 05/12/2022, bản đối chiếu công nợ và biên bản gia hạn nợ không đề ngày tháng năm trên giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện Công ty TNHH G còn nợ số tiền mua hàng gỗ cao su thân của Công ty TNHH T1 là 121.450.010 đồng.

Như vậy, có căn cứ đã xác định được Công ty TNHH T1 có bán hàng hóa cho Công ty TNHH G với số tiền còn nợ lại là 121.450.010 đồng như nguyên đơn khởi kiện.

Căn cứ Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”. Khoản 1 Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn địa điểm và mức tiền quy định trong hợp đồng”.

Điều 50 Luật Thương mại quy định về nghĩa vụ thanh toán: “1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận; 2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật”.

Công ty TNHH G vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận hợp đồng giữa các bên và theo quy định của pháp luật, do đó Công ty TNHH T1 yêu cầu Công ty TNHH G thanh toán nợ gốc mua hàng với số tiền 121.450.010 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu Bị đơn trả số tiền lãi do chậm thanh toán:

Nguyên đơn thừa nhận việc bị đơn đặt mua hàng của nguyên đơn chỉ qua điện thoại, việc giao nhận hàng thì mới có phiếu, các bên không lập hợp đồng bằng văn bản, không thỏa thuận về lãi và thời hạn thanh toán cụ thể mà theo gối đầu. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn tính lãi từ tháng 2/2023 đến nay và chỉ tính 15 tháng với mức lãi suất là 0,8%/tháng, số tiền lãi chậm thanh toán là 121.450.010 đồng x 0,8%/tháng x 15 tháng = 14.574.001 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.

Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng về chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Điều 11 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định. “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N1, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

Kết quả thu thập tại các văn bản cung cấp thông tin lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 – Chi nhánh Đ, Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh Đ, Ngân hàng N2 – Chi nhánh Đ thì mức lãi suất quá hạn đối với nợ gốc hiện nay không được vượt quá 150% mức lãi suất cho vay trong hạn, mức lãi trong hạn từ 6% đến 14% tùy thuộc vào mục đích vay.

Tại thời điểm xét xử, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ba Ngân hàng nêu trên tại địa phương trung bình là trên 10%/năm. Do đó, Nguyên đơn đề nghị mức lãi chậm thanh toán là 0,8%/tháng và chỉ tính 15 tháng là có lợi cho Bị đơn và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 357, khoản 3 Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; Điều 11 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên có cơ sở chấp nhận cho nguyên đơn số tiền lãi suất chậm trả là 10%/năm đối với khoản nợ theo yêu cầu trên.

Tổng số tiền Công ty TNHH G phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH T1 là 121.450.010 đồng x 0,8%/tháng x 15 tháng = 14.574.001 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền gốc là 121.450.010đ và lãi chậm thanh toán là 14.574.001 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi chậm thanh toán là 136.024.011 đồng.

[2.3] Về yêu cầu Bị đơn trả số tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền còn nợ là 26.516.001 đồng:

Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Bị đơn trả số tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền còn nợ là 26.516.001 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật và bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc rút yêu cầu Bị đơn trả số tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền còn nợ là 26.516.001 đồng.

[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. H1 lại tiền tạm ứng án phí cho Nguyên đơn.

[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến đương sự tại phiên tòa:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Xét ý kiến của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 50, Điều 306 Luật thương mại năm 2005;

Căn cứ vào Điều 357, Điều 430; Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là Công ty TNHH T1 đối với Bị đơn là Công ty TNHH G.

Buộc bị đơn Công ty TNHH G có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH T1 tổng số tiền 136.024.011đ (một trăm ba mươi sáu triệu không trăm hai mươi bốn ngàn không trăm mười một đồng): trong đó nợ tiền gốc mua hàng là 121.450.010đ (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn không trăm mười đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán là 14.574.001đ (mười bốn triệu năm trăm bảy mươi tư ngàn không trăm không một đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là Công ty TNHH T1 buộc Bị đơn Công ty TNHH G trả số tiền thuế giá trị gia tăng của tổng số tiền còn nợ là 26.516.001 đồng.

3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Bị đơn Công ty TNHH G phải chịu 6.801.201đ (sáu triệu tám trăm lẻ một ngàn hai trăm lẻ một đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty TNHH T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.947.000đ (ba triệu chín trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009591 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/KDTM-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 21/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger