|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 21/2024/KDTM-PT Ngày 26-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tấn
- Bà Trần Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Bé - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 tháng 9 năm 2023 và ngày 24, 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 12/2023/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 16-01-2023 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 8 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 10/2024/TB-TA ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T3; địa chỉ trụ sở: E, đường D, tổ G, khu phố E, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Công ty TNHH T4; địa chỉ: T đất số 4560, tờ bản đồ số 51, đường NB3A, tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH G; địa chỉ: lô D-6A-CN, khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty TNHH T3.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1985; địa chỉ: số A, N, tổ I, khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Giấy uỷ quyền ngày 16/6/2022); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn T - Luật sư, Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; vắng mặt ngày 26/4/2024.
Người đại hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Huy B, chức vụ: Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Vũ Trùng D, sinh năm 1977; địa chỉ: Công ty TNHH S, tầng A, Toà nhà An Phú P, số A, L, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và/hoặc ông Thân Ngọc Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy uỷ quyền ngày 11/8/2022); ông Thân Ngọc Đông Vũ Trùng D1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm.
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH T3 (sau đây viết tắt là Công ty T3) có ký hợp đồng với Công ty TNHH G, theo đó Công ty T3 sẽ bán cho Công ty TNHH G (sau đấy viết tắt là Công ty G) 03 hệ thống máy là sấy bùn, khử mùi và dập bụi. Để thực hiện hợp đồng này thì ngày 18/10/2021, Công ty TNHH T4 (sau đây viết tắt là Công ty T4) (Bên Bán) và Công ty T3 (Bên Mua) ký Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 (Hợp đồng) với các nội dung:
- Công ty T4 sẽ cung cấp thiết bị và lắp ráp hoàn chỉnh cho Công ty T3 (một) hệ thống máy sấy bùn công suất 90 tấn/ngày, độ ẩm ≤ 15% với chi tiết được mô tả trong Phụ lục: Phạm vi cung cấp (kèm theo Hợp đồng).
- Tổng giá trị Hợp đồng là 12.936.000.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm ba mươi sáu triệu đồng) - đã bao gồm 10% thuế GTGT (VAT).
- Việc thanh toán sẽ được thực hiện như sau:
- Lần 1: Thanh toán đầu tiên 05% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 646.800.000 đồng trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng;
- Lần 2: Thanh toán 10% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 1.293.600.000 đồng trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhập đủ 100% thiết bị máy thứ nhất đến công trình;
- Lần 3: Thanh toán 15% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 1.940.400.000 đồng trong vòng 30 ngày kể từ ngày bàn giao vận hành máy thứ nhất, xuất hóa đơn VAT giá trị của máy thứ nhất.
- Lần 4: Thanh toán 15% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 1.940.400.000 đồng trong vòng 15 ngày kể từ ngày bàn giao vận hành máy thứ nhất.
- Lần 5: Thanh toán 15% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 1.940.400.000 đồng trong vòng 15 ngày kể từ ngày hoàn thành lắp đặt máy số 02, số 03 và xuất hóa đơn VAT giá trị máy số 02, 03.
- Lần 6: Thanh toán 40% (đã bao gồm 10% thuế) giá trị Hợp đồng, tương ứng số tiền 5.174.400.000 đồng trong vòng 45 ngày kể từ ngày bàn giao vận hành hệ thống và cung cấp chứng thư bảo lãnh bảo hành 5% giá trị hợp đồng tương ứng với số tiền 646.800.000 VND trong vòng 24 tháng.
- Tổng thời gian hoàn thành dự án là 07 tháng kể từ ngày hai bên ký Hợp đồng (không bao gồm các ngày lễ của Việt Nam và các trường hợp bất khả kháng như: thiên tai, dịch bệnh...).
- Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký Hợp đồng.
- Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy số hai, số ba tại công trường là 03 tháng, tính từ ngày thanh toán đợt 4 tương ứng với 45% giá trị Hợp đồng.
- Trong trường hợp cần lắp thêm máy để đảm bảo công suất 90 tấn/ngày, thì tổng thời gian bàn giao dự án là không quá 10 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng.
- Thời gian nhập đủ 100% thiết bị của lô hàng đầu tiên (máy số 01) đến công trình là 2,5 tháng. Trong tất cả trường hợp chậm giao máy đến công trình cho Bên Mua mà do lỗi của Bên Bán thì Bên Bán sẽ chịu mức phạt hợp đồng là 0,5 % giá trị Hợp đồng tương ứng với chậm trễ 01 tuần làm việc.
- Trong tất cả trường hợp chậm bàn giao máy cho Bên Mua mà do lỗi của Bên Bán thì Bên Bán sẽ chịu mức phạt hợp đồng là 1,5 % giá trị Hợp đồng tương ứng với chậm trễ 01 tuần làm việc. Tổng giá trị tiền phạt sẽ không vượt quá 08% giá trị Hợp đồng.
- Khi các thiết bị riêng lẻ được giao đến nhà máy của Bên mua, Bên bán phải thông báo để Bên Mua kiểm tra, đánh giá số lượng, chất lượng, tiêu chí kỹ thuật ...trước khi lắp ráp hoàn chỉnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Bên Bán phải chịu trách nhiệm về các khuyết tật ẩn giấu của các trang thiết bị mà Bên Mua không thể phát hiện bằng mắt thường.
- Ngoài ra, Hợp đồng còn quy định về: Hiệu suất, kiểm tra hiệu suất; phương pháp đo lường; nghiệm thu và bàn giao; phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại; quyền và nghĩa vụ của hai bên...
Thực hiện Hợp đồng, Công ty T3 đã chuyển thanh toán cho Công ty T4 số tiền 646.800.000 đồng (sáu trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng) theo Ủy nhiệm chi số 0047 ngày 29/10/2021 của Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B1 – Phòng G1.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty T4 không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, có những vi phạm sau:
- Điều 7 Hợp đồng quy định: “Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký hợp đồng...Thời gian nhập đủ 100% thiết bị của lô hàng đầu tiên (máy số 01) đến công trình là 2,5 tháng kể từ ngày ký hợp đồng”. Tức là đến ngày 04/01/2022 Công ty T4 phải nhập đủ 100% thiết bị của lô hàng đầu tiên (máy số 1) đến công trình. Tuy nhiên, đến ngày 29/01/2022, Công ty T4 vẫn chưa bàn giao đủ 100% thiết bị máy số 01 cho Công ty T3, chậm 18 ngày.
- Tại mục A, dòng thứ tự số 5 Phụ lục: Phạm vi cung cấp chi tiết vật tư thiết bị theo Hợp đồng có ghi “Cánh vít inox304 5mm”, thực tế Bên Bán chỉ sử dụng loại tấm “inox304 4mm”, cũng tại mục A, dòng thứ tự số 10 ghi “Tôn inox 3mm bọc trục” nhưng thực tế Bên bán không sử dụng phần này và không bọc trục.
- Khoản 2 Điều 12 Hợp đồng quy định: “Trước khi giao hàng đến nhà máy, Bên bán phải thông báo và để thời gian hợp lý cho Bên mua kiểm tra hàng hóa. Khi hàng hóa được giao đến nhà máy, chỉ khi Bên mua đã thực hiện kiểm tra và ra thông báo chấp nhận, Bên bán mới tiến hành lắp ráp hệ thống”. Công ty T4 giao hàng đến nhà máy mà không thông báo cho Công ty T3 và chưa được sự chấp thuận của Công ty T3 là vi phạm khoản 2 Điều 12 Hợp đồng. Công ty T3 chưa kiểm tra nên không ký biên bản bàn giao là phù hợp.
Ngày 29/01/2022, Công ty T3 có Thông báo số 01/TB/2022 gửi Công ty T4 để thông báo những vi phạm nêu trên và Công ty T3 sẽ chấm dứt Hợp đồng mua bán giữa hai bên. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty T3 chưa đơn phương chấm dứt Hợp đồng với Công ty T4.
Ngày 10/02/2022 Công ty T4 có Văn bản số 01/2022/TB/TAM gửi Công ty T3 với nội dung: Bên Bán đã giao máy số 01 chậm 18 ngày, tuy nhiên Điều 7 Hợp đồng có quy định “Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký Hợp đồng.” nên thời gian bàn giao máy số 01 vẫn chưa vượt quá 04 tháng; việc thay đổi chủng loại vật tư được nêu tại Phụ lục phạm vi cung cấp có sự đồng ý thống nhất của chủ đầu tư (bên thứ ba). Do đó, Bên Bán không vi phạm Hợp đồng và mong muốn tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021.
Ngày 14/02/2022, Công ty T3 có Thông báo số 02/TB/2022 gửi Công ty T4 với nội dung: Bên Mua đề nghị Bên Bán thực hiện đúng theo các điều khoản đã thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021.
Điều 7 Hợp đồng có quy định “Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký Hợp đồng”. Tính từ ngày ký kết Hợp đồng (18/10/2021) đến nay đã 07 tháng nhưng Công ty T4 không thực hiện việc lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01).
Điều 7 Hợp đồng; giao hàng đến nhà máy mà không thông báo cho Công ty T3 và chưa được sự chấp thuận của Công ty T3 là vi phạm khoản 2 Điều 12 Hợp đồng; tự ý thay đổi chủng loại chi tiết vật tư thiết bị theo Phụ lục: Phạm vi cung cấp kèm theo Hợp đồng.
Trong Hợp đồng số 001/NTC-TAM2021 không xác định địa điểm giao hàng tuy nhiên sau đó hai bên có thống nhất là địa điểm giao và thực hiện hợp đồng tại nhà máy của Công ty G.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Nguyễn Duy K là nhân viên của Công ty T3 được giao trách nhiệm phụ trách làm việc trực tiếp với Công ty T4 và Công ty G. Trong nhà máy của Công ty G có rất nhiều hạng mục đầu tư, nhiều đội dự án hỗ trợ nhà thầu thực hiện. Đối với hạng mục hệ thống máy sấy bùn của Công ty T4 thì ông Nguyễn Duy K là người làm việc trực tiếp với Công ty T4. Còn phía Công ty T4 có làm việc với chủ đầu tư là Công ty G không thì Công ty T3 không nắm được.
Đối với hạng mục hệ thống máy sấy bùn của Công ty T4 thì sau khi xảy ra tranh chấp với Công ty T4, để tránh vi phạm hợp đồng với Công ty G thì Công ty T3 có ký hợp đồng với Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH K1 để hoàn thành hạng mục hệ thống máy sấy bùn cho Công ty G. Hiện tại Công ty T3 đã thanh lý xong hợp đồng với Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH K1. Đối với hợp đồng với Công ty G thì Công ty T3 đã bàn giao hệ thống máy, nghiệm thu xong máy, hiện tại chưa thanh lý xong hợp đồng do còn vướng thời gian thanh toán là hết 30 ngày kể từ ngày bàn giao nghiệm thu máy. Tuy nhiên về cơ bản là thực hiện xong hợp đồng với Công ty G.
Thời điểm Công ty T4 chở máy số 01 đến nhà máy Công ty G2 thì khi chở đến nhà máy bên Công ty T4 mới thông báo miệng cho Công ty T3 biết. Thời điểm giao máy thì không có ông B mà là nhân viên của ông B giao máy. Lúc Công ty T4 giao máy thì có ông Nguyễn Duy K ra kiểm tra cùng với đại diện Công ty G phụ trách hỗ trợ hạng mục này là ông Thân Ngọc Đ. Ông K thừa nhận Công ty T4 bàn giao cả hệ thống máy số 01 là đúng kỹ thuật vì không thể bàn giao linh kiện và gắn tại nhà máy Công ty G. Tuy nhiên, khi nhận kiểm tra ông K phát hiện linh kiện không đúng như hợp đồng đã ký kết nên thông báo miệng cho phía Công ty T4 tại thời điểm đó và không đồng ý ký vào biên bản bàn giao nhận máy. Sau đó ông B có đến làm việc với ông K, do không thống nhất quan điểm nên ông B có xé biên bản bàn giao máy và nói sẽ chở máy về. Sau này theo Công ty T3 biết thì Công ty T4 có cho máy này chạy thử và xảy ra sự cố nổ máy. Hiện tại theo Công ty T3 biết thì máy này vẫn nằm cập hông của nhà xưởng.
Về việc ra vô nhà xưởng của nhân viên Công ty T4: Theo đúng hợp đồng thì Công ty T4 phải đăng ký cho Công ty T3 danh sách nhân viên làm hạng mục này tại nhà máy C để ra vào nhà máy. Sau đó Công ty T3 sẽ đăng ký danh sách ngày cho Công ty G. Tuy nhiên Công ty T4 không đăng ký với Ngân Thuận mà đăng ký trực tiếp với Công ty G. Do đó, nhân viên bên công ty nào ra vô nhà xưởng theo danh sách của Công ty đó đã đăng ký với Công ty G.
Thời điểm Công ty T4 tự ý lắp đặt máy, tự ý đem máy số 01 ra kiểm tra máy thì ông K có chứng kiến nhưng lúc đó Công ty T3 chưa ký vào biên bản nhận bàn giao máy nên không có ý kiến được. Việc lắp đặt và kiểm tra máy là do Công ty T4 tự ý làm không thông qua Công ty T3.
Về việc ký Hợp đồng số 001/NTC-TAM2021 thì Công ty T3 liên hệ trực tiếp với Công ty T4 rồi mới ký hợp đồng, không thông qua Công ty Giấy Kraft Vina như ông B trình bày. Thời điểm ký hợp đồng có gửi hợp đồng cho ông Đ để họ đưa lại ông B ký. Sau khi ông B ký xong thì nhân viên Công ty T3 là ông Nguyễn Tấn H có xuống xưởng lấy lại hợp đồng. Trong hợp đồng có nêu rõ số điện thoại, địa chỉ email làm việc nên ông B trình bày ký hợp đồng thông qua Công ty G, không biết ông K là không đúng.
Về việc nhóm Zalo dự án như ông B trình bày thì ông K không nằm trong nhóm này nên không biết nội dung như thế nào.
Công ty T3 khởi kiện Công ty T4 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát giải quyết:
- Tuyên chấm dứt Hợp đồng mua bán số số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 được ký kết giữa Công ty TNHH T4 và cho Công ty TNHH T3.
- Yêu cầu Công ty TNHH T4 phải trả lại cho Công ty TNHH T3 số tiền 646.800.000 đồng (sáu trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn thì phía nguyên đơn có ý kiến như sau: Không đồng ý yêu cầu này của bị đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày: Đến ngày 17/5/2022, nguyên đơn vẫn chưa chấm dứt hợp đồng với bị đơn. Điều này chứng minh bằng các Thông báo số 02/TB/2022 ngày 14/02/2022 và Thông báo số 03/TB/2022 ngày 18/02/2022 của nguyên đơn gửi bị đơn, theo đó nguyên đơn đều yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng, khắc phục vi phạm. Việc nguyên đơn ký hợp đồng mua máy với các công ty khác là vì để đáp ứng tiến độ thực hiện hợp đồng với Công ty G. Nguyên đơn chỉ đặt mua máy số 01 để chờ bị đơn khắc phục vi phạm. Nếu bị đơn khắc phục vi phạm thì nguyên đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng với bị đơn. Máy số 01 mà nguyên đơn mua của hai công ty khác được nghiệm thu vào ngày 06/4/2022 nhưng đến thời điểm này bị đơn vẫn chưa khắc phục vi phạm. Bị đơn đã vi phạm hợp đồng, không giao hàng như đã thỏa thuận. Về việc chạy thử máy số 01 thì phía nguyên đơn thừa nhận có chứng kiến việc này nhưng phía nguyên đơn chỉ chứng kiến mà không có ý kiến gì vì do nguyên đơn chưa nhận máy từ bị đơn, chưa ký biên bản bàn giao nhận máy nên nguyên đơn không có chịu trách nhiệm đối với máy. Điều 12 của Hợp đồng số 001 quy định chỉ khi bên mua đồng ý bên bán mới được lắp ráp nhưng bị đơn tự ý lắp ráp, tự ý chạy thử. Bị đơn có biên bản thừa nhận việc thiết bị không đúng hợp đồng. Do việc thay đổi thiết bị này nên khi chạy thử máy bị rò mối hàn, phồng cánh gây nổ. Về việc nguyên đơn yêu cầu Công ty G thanh toán đợt đầu của hợp đồng giữa nguyên đơn và Công ty G: Nguyên đơn làm yêu cầu thanh toán dựa vào quy định của hợp đồng là khi nguyên đơn nhập đủ thiết bị thì có thể yêu cầu thanh toán. Nguyên đơn yêu cầu Công ty G thanh toán cho nguyên đơn không dựa vào máy sấy số 01 của bị đơn mà dựa vào biên bản nhập vật tư thiết bị của nguyên đơn. Nguyên đơn thừa nhận tại thời điểm nguyên đơn yêu cầu Công ty G thanh toán thì tại công trường của Công ty G chỉ có 01 máy sấy bùn duy nhất của bị đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn khẳng định nguyên đơn yêu cầu thanh toán không dựa vào máy sấy số 01 của bị đơn. Do đó, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn
* Đại diện bị đơn ông B trình bày:
Thống nhất với phía nguyên đơn về việc giao kết Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021, số tiền nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn và nội dung hợp đồng như phía nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: Công ty T4 đã bàn giao cả máy số 01 với giá trị hơn 4.000.000.000 đồng cho Công ty T3 nhưng cũng chỉ mới nhận 05% giá trị hợp đồng mà theo quy định của hợp đồng phải là 10%. Công ty T4 đã thông báo trước khi bàn giao máy số 01 cho Công ty T3 thông qua làm việc trực tiếp với người đại diện của Công ty T3 là ông Đ, ông T1 (những người chịu trách nhiệm làm việc liên quan Hợp đồng này) nhưng Công ty T3 lại có thái độ không hợp tác khi không chịu ký biên bản bàn giao máy. Công ty T4 đã nhiều lần yêu cầu ký biên bản bàn giao máy nhưng Công ty T3 không chịu ký, tự ý test máy làm máy gặp sự cố rồi thông báo máy bị lỗi và yêu cầu chấm dứt hợp đồng. Theo Hợp đồng quy định tất cả các kết quả kiểm tra dù đạt hay không đạt đều phải được lập thành biên bản với đầy đủ thông tin chi tiết và hai bên có chữ ký đại diện vào biên bản kiểm tra nhưng mặc dù Công ty T4 gửi email mời Công ty T3 họp giải quyết trên tinh thần hợp tác nhưng Công ty T3 đều báo bận không đến dự. Nhưng chi tiết máy không giống với hợp đồng mà Công ty T3 nêu không ảnh hưởng đến chất lượng máy nên hai bên có thể bàn bạc lại để thống nhất cách giải quyết. Theo Công ty T4 được biết thì Công ty T3 đã mua máy tương tự của công ty khác nên muốn chấm dứt hợp đồng với Công ty T4.
Căn cứ theo Điều 4 Hợp đồng số 001: Công ty Ngân Thuận chưa tiến hành nghiệm thu hiệu suất máy giữa các bên liên quan, chưa cấp giấy chứng nhận nghiệm thu để xác định máy không đạt hiệu suất hoặc được thiết kế không đúng quy cách như hợp đồng. phải nghiệm thu, phải kiểm tra đến 02 lần và phải lập biên bản có xác nhận của hai bên để xác định sản phẩm không đảm bảo thì mới có cơ sở cho rằng phía Công ty T4 đã vi phạm hợp đồng. Từ việc chưa tiến hành nghiệm thu cho nên Công ty T3 không hề có thông báo yêu cầu Công ty T4 bổ sung, khắc phục thiếu sót nếu có để hoàn chỉnh sản phẩm. Trong khi đó lại đưa ra thông báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là không phù hợp. Trong khi đó thực tế kết quả chạy thử nghiệm máy số 01 cho ra sản phẩm đạt chất lượng như yêu cầu của bên mua theo Hợp đồng số 001.
Lý do Công ty T3 đưa ra là việc bàn giao máy chậm trễ, không đúng thời gian thực hiện hợp đồng là không chính xác. Theo Điều 7 của hợp đồng thì thời gian giao hàng đủ 100% thiết bị máy số 01 là 2,5 tháng kể từ ngày ký hợp đồng là ngày 18/10/2021 đến ngày 04/01/2022 và thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký hợp đồng. Việc chậm trễ 18 ngày đã được các bên thông báo cho nhau về việc có một số linh kiện của hệ thống nhập khẩu bị chậm trễ từ phía nhà cung cấp và các bên đều thống nhất việc này. Công ty T3 cũng không có bất kỳ thông báo hay yêu cầu nào trong thời gian này trước ngày 22/01/2022 (ngày các bên chạy thử máy số 01).
Căn cứ khoản 2 Điều 23 của hợp đồng thì từ ngày 04/01/2022 đến ngày 28/01/2022 Công ty T4 chưa nhận được thông báo nào của công ty T3 có vi phạm điều khoản nào trong hợp đồng.
Thời điểm ông B ký Hợp đồng số 001 thì ông B hoàn toàn không biết ông Nguyễn Duy K là ai. Ông B cho rằng từ khi giao kết hợp đồng, đặt thiết bị, kiểm tra nhà xưởng thì ông B chỉ làm việc với ông Thân Ngọc Đ. Công ty T4 ký hợp đồng với Công ty T3 thông qua ông Thân Ngọc Đ, ông Đ đưa cho ông B hợp đồng đã được bên Công ty T3 ký rồi, ông B ký và gửi lại cho ông Đ. Đến thời điểm giao máy số 01 tại nhà xưởng ông B mới biết ông K và mới biết ông T1, ông Đ là bên Công ty G, không phải nhân viên Công ty T3.
Khi thực hiện hạng mục này thì ông B làm việc trên nhóm zalo có ông Đ và Công ty T3 tham gia. Thời điểm trước khi bàn giao máy số 01 ông B đã nhắn tin vào nhóm Zalo này thông báo giao máy. Ông B đã cho nhân viên chở máy đến bàn giao tại công trường của Công ty G.
Từ ngày 22-24/01/2022 khi kiểm tra máy số 01 có sự tham gia của Công ty T3, Công ty T4 và Công ty G.
Chiều 24/01/2022, ông B có làm việc với ông K về biên bản bàn giao máy số 01. Sau đó hai bên phát sinh tranh chấp ông K thông báo yêu cầu làm biên bản bàn giao chi tiết máy. Sau đó Công ty T4 có làm biên bản bàn giao chi tiết máy nhờ ông T1 và ông Đ là nhân viên Công ty G gửi cho Công ty T3.
Trong thời gian bàn giao máy thì 03 bên có kiểm tra máy số 01, bên Công ty T3 là ông K tham gia.
Ngày 25/01/2022 có kết quả độ ẩm đầu ra thì ông Đ báo là kết quả đạt yêu cầu trên Zalo nhóm chung.
Tuy nhiên trong thời gian test máy thì Công ty T3 không ký biên bản bàn giao, không chịu quyết toán nên ông B có yêu cầu mang máy về nhưng ông Đ, ông T1 đề nghị qua Tết âm lịch giải quyết do thời gian sắp tết âm lịch. Đến ngày 29/01/2022 Công ty T3 gửi thông báo số 01 yêu cầu chấm dứt hợp đồng và có nội dung yêu cầu hoàn trả tiền đã thanh toán thì mới có lấy máy về. Vậy Công ty T3 thừa nhận có giữ máy số 01.
Về việc ra vào nhà xưởng của Công ty G thì Công ty T4 có gửi danh sách nhân việc thực hiện hạng mục này cho ông Đ của Công ty G để ra vô phục vụ lắp đặt máy. Công ty T4 ra vào nhà xưởng này theo danh sách nhân viên đã đăng ký với Công ty G.
Về việc máy số 01 xảy ra sự cố bị nổ ngày 26/01/2022 là do ông Đ có yêu cầu cố gắng test máy cho xong vì máy này là máy mới, ở Việt Nam không có nên yêu cầu chạy thử để có lỗi gì thì xử lý luôn.
Trước yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 thì Công ty T4 không đồng ý.
Ngoài ra, sau khi phía Công ty T3 đơn phương chấm dứt hợp đồng sai pháp luật đã gây thiệt hại cho Công ty T4 như sau:
- Toàn bộ chi phí để sản xuất ra máy số 01 hoàn chỉnh: 4.013.430.933 đồng
- Chi phí nhập linh kiện máy số 02 và máy số 03: 1.477.460.853 đồng
- Tiền phạt vi phạm hợp đồng căn cứ vào khoản 1 Điều 8 Hợp đồng mua bán hàng hoá số 01 là 1.034. 880.000 đồng.
Tổng số tiền là 6.525.771.786 đồng. Do đó, Công ty TNHH T4 yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH T3 phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do không tiếp tục thực hiện hợp đồng cho Công ty TNHH T4 số tiền là 6.525.771.786 đồng (sáu tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi sáu đồng). Cấn trừ số tiền Công ty T3 đã chuyển khoản cho Công ty T4 là 646.800.000 đồng. Số tiền còn lại Công ty T3 phải bồi thường là 5.878.971.786 đồng.
* Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Việc tranh chấp giữa hai công ty này hoàn toàn không liên quan đến Công ty TNHH G nên Công ty G không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này, do yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố không liên quan đến Công ty G. Tuy nhiên, Công ty G cho rằng nguyên đơn đã vi phạm nguyên tắc trung thực, thiện chí trong quá trình thực hiện hợp đồng với bị đơn. Những vi phạm mà nguyên đơn cho rằng là lý do để nguyên đơn chấm dứt hợp đồng với bị đơn thì nguyên đơn cũng vi phạm với Công ty G. Công ty G đã tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện hợp đồng. Nguyên đơn cũng thừa nhận quá trình thực hiện hợp đồng với Công ty G hai bên đều trao đổi qua mạng Zalo cho nhanh, không phải gửi thư điện tử và thư giấy như hợp đồng quy định. Nguyên đơn cũng thừa nhận có tham gia quá trình chạy thử máy sấy số 01 nhưng cho rằng chỉ chứng kiến mà không có ý kiến là không trung thực. Ngày 22/01/2022 bị đơn giao máy cho nguyên đơn. Ngày 26/01/2022 nguyên đơn là yêu cầu Công ty G thanh toán dựa trên máy số 01 của bị đơn. Như vậy, bị đơn phải thiện chí tạo điều kiện cho bị đơn khắc phục vi phạm, tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng nguyên đơn lại yêu cầu chấm dứt hợp đồng với bị đơn, tìm nhà thầu khác thực hiện hợp đồng là không thiện chí. Hệ thống máy sấy bùn là máy công suất lớn đầu tiên có ở Việt Nam. Công ty G luôn thông cảm cho nguyên đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng như giao trễ nhưng nguyên đơn không tạo điều kiện cho bị đơn như vậy. Xét thấy thì bị đơn thiệt hại nhiều nhất. Công ty G luôn mong muốn hai bên hòa giải được với nhau
Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
- Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc yêu cầu tuyên chấm dứt Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 được ký kết giữa Công ty TNHH T4 và Công ty TNHH T3.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH T4 về việc: Yêu cầu Công ty TNHH T4 phải trả lại cho Công ty TNHH T3 số tiền 646.800.000 đồng (sáu trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4 đối với nguyên đơn Công ty TNHH T3.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4 đối với nguyên đơn Công ty TNHH T3 về việc yêu cầu bồi thường số tiền 31.933.800 đồng (ba mươi mốt triệu chín trăm ba mươi ba nghìn tám trăm đồng).
Buộc nguyên đơn Công ty TNHH T3 phải bồi thường cho bị đơn Công ty TNHH T4 tổng số tiền là 5.847.037.986 đồng (năm tỷ tám trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng).
Bị đơn Công ty TNHH T4 có nghĩa vụ bàn giao cho nguyên đơn Công ty TNHH T3 máy số 01 đã lắp ráp và các linh kiện còn lại của máy số 01 và toàn bộ linh kiện của máy số 02, 03 (có danh mục chi tiết kèm theo Bản án).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 17/01/2023, nguyên đơn Công ty TNHH T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 15/02/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-KDTM đề nghị sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm, buộc nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu số tiền 1.500.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nguyên đơn xác định chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, những phần khác nguyên đơn không kháng cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Giữ nguyên kháng nghị.
- Bị đơn xin thay đổi yêu cầu phản tố, sau khi trừ số tiền 15.129.000 đồng (gồm thiết bị chưa lắp ráp của máy số 01: tại mục số 9 phần C Hệ thống Steam của Bảng chi phí chế tạo máy số 01, số tiền 6.869.000 đồng; thiết bị chưa lắp ráp của máy số 2-3: tại mục số 10 phần C Hệ thống Steam của Bảng chi phí nhập thiết bị máy số 2-3, số tiền 8.260.000 đồng (4.130.000 đồng/cái x 02 cái)), bị đơn yêu cầu nguyên đơn thanh toán tổng số tiền 5.831.908.986 đồng.
Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn xác định kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với việc Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, những phần khác nguyên đơn không kháng cáo.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bị đơn đã có những vi phạm hợp đồng như giao hàng nhưng không thông báo cho nguyên đơn; vi phạm thời gian giao hàng; giao hàng không đúng kỹ thuật và không đạt chất lượng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện bị đơn.
Bị đơn phản tố yêu cầu bồi thường thiệt hại, tuy nhiên bị đơn chưa chứng minh được thiệt hại mà Tòa cấp sơ thẩm đã buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại cho bị đơn.
Bị đơn yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng theo khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng mua bán hàng hóa số tiền 1.034.880.000 đồng là không có cơ sở, vì sau khi ký hợp đồng các bên có ký phụ lục hợp đồng số tiền hàng giảm xuống còn 12%, nếu bồi thường số tiền sẽ là khoảng 895.000.000 đồng. Tại mục C trang 7 bảng chi tiết thiết bị cho máy số 02-03 kèm theo bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã tính số tiền không đúng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, sửa một phần Bản án số 02/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty T3 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, 272, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn xin thay đổi yêu cầu phản tố, bị đơn yêu cầu nguyên đơn thanh toán tổng số tiền 5.831.908.986 đồng. Việc thay đổi yêu cầu phản tố của bị đơn phù hợp với quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các đương sự thống nhất giữa Công ty T3 và Công ty T4 có ký Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021. Theo hợp đồng, Công ty T4 cung cấp thiết bị và lắp ráp hoàn chỉnh cho Công ty T3 (1) hệ thống máy sấy bùn công suất 90 tấn/ngày, độ ẩm < 15% với chi tiết được mô tả trong Phụ lục: Phạm vi cung cấp. Tổng giá trị hợp đồng là 12.936.000.000 đồng, đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng. Công ty T3 đã thanh toán cho Công ty T4 số tiền 646.800.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Nguyên đơn cho rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã có những vi phạm hợp đồng cụ thể: Vi phạm trong việc thông báo giao hàng và thời gian giao hàng; giao hàng không đúng chủng loại và không đạt chất lượng. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên chấm dứt Hợp đồng mua bán số số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 được ký kết giữa Công ty T4 và cho Công ty T3 và yêu cầu Công ty T4 phải trả lại cho Công ty T3 số tiền đã giao 646.800.000 đồng (sáu trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
[2.3] Bị đơn cho rằng đã thực hiện đúng hợp đồng. Do nguyên đơn tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng đã gây thiệt hại cho bị đơn, bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường thiệt hại toàn bộ chi phí sản xuất máy số 01; chi phí nhập linh kiện máy số 02, máy số 03 và tiền phạt vi phạm hợp đồng số 001/NTC-TAM2021 với tổng số tiền là 6.525.771.786 đồng, sau khi trừ vào số tiền nguyên đơn đã thanh toán 646.800.000 đồng, nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn số tiền 5.878.971.786 đồng.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn Công ty T3.
Nguyên đơn cho rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã có những vi phạm hợp đồng cụ thể: Vi phạm trong việc thông báo giao hàng, bị đơn giao hàng đến nhà máy mà không thông báo cho nguyên đơn và chưa được sự chấp thuận của nguyên đơn là vi phạm khoản 2 Điều 12 của Hợp đồng; Vi phạm thời hạn giao hàng; giao hàng không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và không đạt chất lượng, cụ thể từ ngày 22/01 – 26/01/2022, bị đơn và chủ đầu tư tiến hành cho chạy thử máy, kết quả máy phát nổ.
[3.1] Tại khoản 2 Điều 12 của Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 quy định: “Trước khi giao hàng đến nhà máy, Bên bán phải thông báo và để thời gian hợp lý cho Bên mua kiểm tra hàng hóa...”.
Theo Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 thì các đương sự không quy định địa điểm giao hàng, nhưng thực tế các bên thống nhất địa điểm giao hàng và thực hiện hợp đồng tại nhà máy của Công ty Giấy Kraft Vina, tọa lạc tại lô D-6A-CN, khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Do thực hiện hợp đồng tại nhà máy Công ty G, bị đơn phải đăng ký danh sách nhân viên ra vào Công ty Giấy Kraft Vina, đồng thời bị đơn lập nhóm trên Zalo với tên “Nhóm cơ khí máy sấy bùn” trong nhóm có ông Thân Ngọc Đ là người của Công ty Giấy Kraft Vina, điều này được thể hiện tại Vi bằng ngày 29/10/2022.
Ngày 22/01/2022, bị đơn nhắn tin trên “Nhóm cơ khí máy sấy bùn” thông báo chở máy tới cổng nhà máy N hỗ trợ cho xe vào nhà máy giúp. Quá trình tố tụng, nguyên đơn thừa nhận khi bị đơn chở máy số 01 đến nhà máy của Công ty G, bị đơn mới thông báo miệng cho nguyên đơn biết và khi bị đơn giao máy thì có đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Duy K ra kiểm tra máy và không có ý kiến gì về việc thông báo giao hàng.
[3.2] Ngày 22/01/2022, bị đơn chở máy số 01 đến nhà máy của Công ty G tại khu vực thi công hệ thống máy sấy bùn, thời điểm giao có mặt nhân viên nguyên đơn (ông K), ông Thân Ngọc Đ (nhân viên Công ty G), đại diện nguyên đơn ông K kiểm tra máy.
Cùng ngày 22/01/2022, nguyên đơn, bị đơn yêu cầu Công ty G (ông Đ) cung cấp điện và hơi để chạy thử máy số 01, việc chạy thử máy bắt đầu từ ngày 22/01/2022 cho đến ngày 26/01/2022 thì máy phát nổ.
Ngày 29/01/2022, nguyên đơn có Thông báo số 01/TB/2022 gửi bị đơn để thông báo cho bị đơn biết việc vi phạm thời gian giao hàng, giao hàng không đúng phụ lục cung cấp như: bị đơn không sử dụng “Cánh vít inox304 5mm”, không sử dụng “Tôn inox 3mm bọc trục” và nguyên đơn sẽ chấm dứt Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 từ ngày 19/01/2022, đồng thời yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận 646.800.000 đồng.
Cùng ngày 29/01/2022, bị đơn có văn bản trả lời cho nguyên đơn với nội dung: “Vì là ngày làm việc cuối năm nên xin trả lời vào ngày 10/02/2022”.
Ngày 30/01/2022, nguyên đơn gửi mail cho bị đơn nội dung “Bên mình gửi phương án thanh toán các vật tư đã nhập vào công trình...kèm theo là Phụ lục phạm vi cung cấp (thể hiện danh mục linh kiện, trong đó tại mục 6 phụ lục thể hiện “Cánh vít inox304 5mm)”.
Ngày 10/02/2022, bị đơn có Văn bản số 01/2022/TB/TAM gửi nguyên đơn với nội dung: Bên bán đã giao máy số 01 chậm 18 ngày, tuy nhiên Điều 7 Hợp đồng có quy định “Thời gian lắp đặt, chạy thử nghiệm và bàn giao máy thứ nhất (máy số 01) tại công trường là 04 tháng, tính từ ngày ký Hợp đồng”. Như vậy tính tổng thời gian bàn giao máy số 1 vẫn chưa vượt quá 04 tháng; việc bị đơn sử dụng loại tấm “inox304 4mm” bị đơn không sử dụng “Tôn inox 3mm bọc trục” và không bọc trục, bị đơn đã họp và được sự thống nhất của chủ đầu tư. Bên Bán không vi phạm Hợp đồng và mong muốn tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021.
Ngày 14/02/2022, nguyên đơn có Văn bản số 02/TB/2022 gửi bị đơn với nội dung: Bên Mua đề nghị Bên Bán thực hiện đúng theo các điều khoản đã thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021.
Ngày 15/02/2022, bị đơn trả lời với nguyên đơn nội dung: “Bị đơn đề xuất có một buổi làm việc trực tiếp tại trụ sơ Công ty nguyên đơn”.
Ngày 18/02/2022, nguyên đơn có văn bản số 03/TB/2022 trả lời bị đơn với nội dung: “Đề nghị bị đơn khắc phục các vi phạm và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đúng theo các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng”.
Ngày 18/02/2022, bị đơn trả lời nguyên đơn: “Trước khi thực hiện khắc phục lỗi bên T2 Anh M muốn gặp trao đổi và thống nhất các vấn đề trước khi thực hiện”.
Ngày 23/02/2022, bị đơn gửi mail nhắc nguyên đơn với nội dung: “Vui lòng sắp xếp lịch để hai bên công ty họp để thống nhất hướng khắc phục sớm nhất”.
Ngày 25/02/2022, nguyên đơn trả lời bị đơn: “Quý công ty V thực hiện đúng theo nghĩa vụ và điều khoản trong hợp đồng đã ký kết...”
Ngày 28/02/2022, nguyên đơn trả lời bị đơn: Quý công ty thực hiện đúng nghĩa vụ, điều khoản trong hợp đồng; hiện tại chúng tôi đang tập trung cho tiến độ dự án, nên không sắp xếp họp trực tiếp được; chúng tôi sẽ trao đổi và phản hồi bằng email".
Ngày 02/3/2022, bị đơn trả lời nguyên đơn: “Để công việc sau này được thuận lợi thì 02 bên cần ngồi lại thống nhất và có biên bản 02 bên ký thống nhất trước khi làm”.
[3.3] Ngoài ra, ngày vào ngày 15/02/2022 nguyên đơn gửi thư điện tử cho Công ty G thông báo việc đã chạy thử kiểm tra máy số 01 nhưng máy không hoạt động như mong đợi và việc sửa chữa máy tốn nhiều chi phí, nhân lực và thời gian hơn là làm máy mới. Ngày 16/02/2022 và ngày 21/02/2022 nguyên đơn đã ký hợp đồng với Công ty TNHH T5 và Công ty K1 để mua hệ thống máy sấy bùn công suất 30 tấn/ngày, độ ẩm < 15% với chi tiết được mô tả trong phụ lục: Phạm vi cung cấp. Trong khi bị đơn nhiều lần đề nghị được làm việc trực tiếp với nguyên đơn để bàn bạc phương án giải quyết các tranh chấp của Hợp đồng, nhưng nguyên đơn không đồng ý. Điều này thể hiện nguyên đơn không có thiện chí tiếp tục thực hiện hợp đồng với bị đơn.
[3.4] Quá trình tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận từ khi giao nhận máy ngày 22/01/2022 cho đến ngày 29/01/2022 nguyên đơn gởi Thông báo số 01/2022 chấm dứt hợp đồng với bị đơn với các lý do vi phạm thời hạn giao hàng và chủng loại vật tư máy cũng như không thông báo trước thời gian giao hàng, thì nguyên đơn không có văn bản, tin nhắn nào gửi bị đơn về nhắc nhở vi phạm. Đồng thời, ngày 26/01/2022, nguyên đơn đã làm hồ sơ yêu cầu Công ty G thanh toán đợt đầu cho nguyên đơn và ngày 30/01/2022 nguyên đơn gửi mail cho bị đơn nội dung “Bên mình gửi phương án thanh toán các vật tư đã nhập vào công trình...kèm theo là Phụ lục phạm vi cung cấp (thể hiện danh mục linh kiện, trong đó tại mục 6 phụ lục thể hiện “Cánh vít inox304 5mm)”.
Tại Điều 318 Luật Thương mại quy định thời hạn khiếu nại như sau:
"1....
2. Sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, trong trường hợp hang hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành;
3. Chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác.”
Đối chiếu với quy định trên, việc nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm hợp đồng là không có căn cứ.
[3.5] Tại phiên tòa ngày 06/9/2023, nguyên đơn đề nghị tạm ngừng phiên tòa để trưng cầu giám định. Nguyên đơn yêu cầu Trung tâm K2 (viết tắt là Q), có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giám định sau:
- Giám định vật liệu chế tạo của Máy sấy bùn số 01, cụ thể: Liệt kê, so sánh các chi tiết, thiết bị, linh kiện, đã lắp ráp tại Máy sấy bùn số 1 với các thiết bị, linh kiện quy định tại Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 về số lượng, chất lượng, chủng loại, xuất xứ);
- Giám định các hư hỏng của Máy sấy bùn số 01 và kết luận nguyên nhân hư hỏng;
- Giám định kỹ thuật của các mối hàn của Máy sấy bùn số 01 và kết luận chất lượng an toàn kỹ thuật của các mối hàn;
- Giám định kỹ thuật an toàn bình chịu áp lực theo quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn bình chịu áp lực và kết luận Máy sấy bùn số 01 đủ tiêu chuẩn kỹ thuật để vận hành hay không?
Quatest 3 có văn bản đề nghị các bên đương sự cung cấp các tài liệu liên quan đến yêu cầu giám định, tuy nhiên các đương sự không cung cấp, nên Quatest 3 đã có Công văn số 0196/KT3-N1 ngày 27/01/2024, với nội dung: không có căn cứ thực hiện việc giám định theo yêu cầu.
[3.6] Bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường thiệt hại do không tiếp tục thực hiện hợp đồng đối với toàn bộ chi phí sản xuất máy số 01 hoàn chỉnh, chi phí mua linh kiện máy số 02, số C và tiền phạt vi phạm hợp đồng theo khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng, tổng số tiền là 6.525.771.786 đồng, sau khi trừ số tiền bị đơn đã nhận của nguyên đơn 646.800.000 đồng và nguyên đơn xin rút lại chi phí chế tạo máy số 01 số tiền 31.933.800 đồng được thể hiện tại mục số (12), (13) phần C của bảng chi phí chế tạo máy số 01 do bị đơn cung cấp, thì nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn tổng số tiền 5.847.037.986 đồng.
Quá trình tố tụng, ngày 15/3/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với linh kiện, thiết bị máy 02-03 tại kho của bị đơn: Các đương sự thống nhất với các thiết bị được liệt kê tại “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 2-3” kèm theo bản án sơ thẩm và số liệu kiểm tra thực tế. Đồng thời, tại phiên tòa ngày 26/4/2024, Hội đồng xét xử đã kiểm tra các thiết bị còn lại chưa lắp ráp của máy số 01 được liệt kê tại “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 01” kèm theo bản án sơ thẩm do bị đơn xuất trình.
Tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận thiết bị còn lại tại mục số 10 phần C Hệ thống Steam của “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 2-3” và mục số 9 phần C Hệ thống Steam của “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 01” kèm theo Bản án của cấp sơ thẩm hiện không có tại kho của bị đơn, nên bị đơn đồng ý trừ tiền thiết bị này trị giá 15.129.000 đồng (máy 2-3: trị giá 8.260.000 đồng + máy 01 trị giá 6.869.000 đồng).
Tại mục các linh kiện còn lại phần C Hệ thống Steam của “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 01” kèm theo bản án sơ thẩm thể hiện chi phí nhân công lắp ráp với tổng số tiền 10.850.000 đồng. Bị đơn cho rằng, bị đơn đã lắp ráp máy số 01 khi giao máy tại nhà máy của Công ty Giấy Kraft Vina, sau khi máy phát nổ bị đơn phải tháo một số linh kiện ra kiểm tra, do đó chi phí nhân công này phải được tính khi lắp ráp. Xét, yêu cầu này của bị đơn không có căn cứ.
Như nhận định tại mục [3.4], bị đơn không vi phạm hợp đồng, nguyên đơn đã có Thông báo số 01 yêu cầu chấm dứt hợp đồng với bị đơn mà không có lý do, vì vậy tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp. Tổng số tiền bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán (sau khi trừ số tiền nguyên đơn đã nhận 646.800.000 đồng) là 5.847.037.986 đồng (gồm phạt vi phạm hợp đồng 1.034.880.000 đồng; chi phí thiết bị máy số 01 là 3.981.497.133 đồng; chi phí thiết bị máy số 2-3 là 1.477.460.853 đồng) – 25.979.000 đồng (gồm 10.850.000 đồng chi phí nhân công lắp ráp máy số 01; 15.129.000 đồng bị đơn khấu trừ giá trị thiết bị còn thiếu), nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn số tiền 5.821.058.986 đồng.
[3.7] Tại phần quyết định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc nguyên đơn thanh toán tiền cho bị đơn, buộc bị đơn phải bàn giao cho nguyên đơn máy số 01 đã được lắp ráp và toàn bộ thiết bị chưa lắp ráp là phù hợp. Tuy nhiên, tại “Bảng chi tiết thiết bị cho máy số 01” kèm theo bản án sơ thẩm đã liệt kê chi tiết các thiết bị máy số 01 đã được lắp ráp là không phù hợp. Vì tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 28/10/2022 của tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự thống nhất máy sấy bùn số 01 đã lắp ráp được đặt tại cổng số 02 của Công ty G, nếu liệt kê chi tiết thiết bị đã lắp ráp thì phải tháo máy kiểm tra thiết bị bên trong mới xác định được chi tiết. Do đó, cần giao cho nguyên đơn máy số 01 cho đúng với thực tế.
[3.8] Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thiết bị của máy số 01 đã được lắp ráp. Xét, máy số 01 đã được lắp ráp, không thể tháo rời để kiểm tra từng thiết bị, đồng thời phải có cơ quan chuyên môn xác định, do đó yêu cầu của nguyên đơn không có cơ sở xem xét.
[3.9] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng, bị đơn yêu cầu phạt vi phạm 08% hợp đồng theo khoản 1 Điều 8 của hợp đồng mua bán hàng hóa số tiền 1.034.880.000 đồng là không có cơ sở, vì sau khi ký hợp đồng các bên có ký phụ lục hợp đồng số tiền hàng giảm xuống còn 12%, nếu bồi thường số tiền sẽ là khoảng 895.000.000 đồng.
Tại Điều 2 của hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 thể hiện: Tổng giá trị hợp đồng là 12.936.000.000 đồng, đã bao gồm 10% thuế GTGT theo quy định của nhà nước. Kèm theo hợp đồng này các bên đã ký Phụ lục phạm vi cung cấp với tổng giá trị là 12.936.000.000 đồng (đã có thuế VAT 10%. Như vậy, bị đơn yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng theo khoản 1 Điều 8 của hợp đồng mua bán số tiền 1.034.880.000 đồng là có căn cứ.
[4] Từ những nhận định trên, kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận một phần.
[5] Tại Danh mục án phí, lệ phí kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đã quy định: Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá nghạch; mức thu 3.000.000 đồng.
Tại khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định: Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã thống nhất tuyên hủy Hợp đồng mua bán số 001/NTC-TAM2021 ngày 18/10/2021 và Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tuy nhiên tại Mục 5 phần quyết định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu 150.000 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là chưa phù hợp, mỗi bên phải chịu 1.500.000 đồng.
[6] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Những phần khác của bản án các đương sự không kháng cáo nên phát sinh hiệu lực.
[8] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
[9] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo được chấp nhận, nên không phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận Kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-KDTM ngày 15/02/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH T3.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4 đối với nguyên đơn Công ty TNHH T3.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4 đối với nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với số tiền 10.850.000 đồng (mười triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Giữ nguyên một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương như sau:
- Đối với những phần khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Bị đơn Công ty TNHH T4 phải chịu 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và đã thực hiện xong
- Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương như sau:
Buộc nguyên đơn Công ty TNHH T3 phải bồi thường cho bị đơn Công ty TNHH T4 tổng số tiền là 5.821.058.986 đồng (năm tỷ tám trăm hai mươi mốt triệu không trăm năm mươi tám nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng).
Bị đơn Công ty TNHH T4 có nghĩa vụ bàn giao cho nguyên đơn Công ty TNHH T3: 01 máy sấy bùn số 01 gắn liền với bệ đỡ đã lắp ráp được đặt tại cổng số 2 của Công ty TNHH G và toàn bộ thiết bị chưa được lắp ráp của máy số 01, 02, 03 do Công ty T4 đang quản lý (có danh mục thiết bị kèm theo Bản án).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự.
Nguyên đơn Công ty TNHH T3 phải chịu 115.321.058 đồng (một trăm mười lăm triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn không trăm năm mươi tám đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 15.236.000 đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0005308 ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Công ty TNHH T3 phải tiếp tục nộp số tiền 100.085.058 đồng (một trăm triệu không trăm tám mươi lăm nghìn không trăm năm mươi tám đồng).
Bị đơn Công ty TNHH T4 phải chịu số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 57.262.586 đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0011873 ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Hoàn trả cho Công ty TNHH T4 số tiền 52.762.586 đồng (năm mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm tám mươi sáu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH T4 về việc: Yêu cầu Công ty TNHH T4 phải trả lại cho Công ty TNHH T3 số tiền 646.800.000 đồng (sáu trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
Nguyên đơn Công ty TNHH T3 không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm
Hoàn trả cho Công ty TNHH T3 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0001720 ngày 10/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
Bản án số 21/2024/KDTM-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 21/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
