|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/KDTM-ST
Ngày: 26-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Anh Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Yêm
- Bà Hoàng Thị An
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 84/2023/TLST-KDTM ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QÐST-KDTM ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự
Nguyên đơn: Ngân hàng N1
Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L - Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh Đ; Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Trần Văn M - Phó giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh Đ; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Quỳnh A - Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh Đ - Phòng G.
Bị đơn: Ông Dương Văn N, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Kim T, sinh năm 1976 (vợ ông N)
- Chị Dương Ngọc L1, sinh năm 2004 (con ông N)
- Chị Dương Hồng H, sinh năm 2005 (con ông N)
Cùng nơi thường trú: Thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Tại phiên toà, có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 21/02/2019, Ngân hàng N1 (gọi tắt là Ngân hàng A1) và ông Dương Văn N có ký Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV 201901075/HĐTD với nội dung: Phương thức cho vay: theo hạn mức tín dụng; Mức dư nợ cao nhất: 600.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Kinh doanh sản xuất đồ gỗ; Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất cố định/Lãi suất điều chỉnh; Lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng: 9%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150%/năm so với lãi suất trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm; Thời hạn của hạn mức tín dụng là 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của lần giải ngân đầu tiên; Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ theo từng giấy nhận nợ kèm theo.
Thực hiện thoả thuận của Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201901075, Ngân hàng A1 - Chi nhánh Đ đã thực hiện giải ngân cho ông Dương Văn N tổng cộng 5 lần theo các Giấy nhận nợ ngày 27/02/2019, ngày 04/3/2019, ngày 05/3/2019, ngày 06/3/2019 và ngày 19/4/2019 với tổng số tiền đã giải ngân là 599.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Dương Văn N cùng vợ là bà Bùi Kim T đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 819/2015/HĐTC, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/5/2015 tại Văn phòng C thế chấp cho Ngân hàng A1 - Chi nhánh Đ tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 24(3), tờ bản đồ số 4, diện tích 82,8m², tại địa chỉ thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 500584, Số vào sổ cấp GCN: 3601.QĐ-UBND.2011/CH.00286.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 05/10/2011 mang tên ông Dương Văn N. Ngày 27/5/2015, Văn phòng Đ1 - Chi nhánh huyện Đ chứng nhận việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
Mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng ông Dương Văn N chưa thanh toán được đầy đủ tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng A1. Ngân hàng A1 đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử đại diện làm việc với ông Dương Văn N để tìm phương hướng giải quyết nhưng ông Dương Văn N vẫn không trả đầy đủ số tiền nợ. Do đó, ông Dương Văn N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng A1. Tính đến hết ngày 26/4/2024, ông Dương Văn N còn nợ Ngân hàng A1 tổng số tiền là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm tám mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng.
Nay, Ngân hàng A1 khởi kiện ông Dương Văn N đến Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông
Dương Văn N phải trả cho Ngân hàng A1 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 26/4/2024 là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng. Và buộc ông Dương Văn N phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp ông Dương Văn N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng A1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 24(3), tờ bản đồ số 4, diện tích 82,8m², tại địa chỉ thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 500584, Số vào sổ cấp GCN: 3601.QĐ-UBND.2011/CH.00286.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 05/10/2011 mang tên ông Dương Văn N. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì ông Dương Văn N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng. Về án phí: Ông Dương Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là ông Dương Văn N trình bày:
Năm 2019, do cần vốn đầu tư làm ăn nên ngày 21/02/2019 ông đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N1 (gọi tắt là Ngân hàng A1) để vay số tiền 600.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 24(3), tờ bản đồ số 4, diện tích 82,8m², tại thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 500584 ngày 05/10/2011 mang tên ông. Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp liên quan đến khoản vay do Ngân hàng nộp tại Toà án đúng là do ông ký và ông không có ý kiến gì. Do điều kiện làm ăn khó khăn nên ông chưa trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng, dẫn đến việc Ngân hàng khởi kiện ông đến Toà án nhân dân huyện Đông Anh. Nay, ông mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian, miễn giảm lãi và cho ông tự xử lý tài sản để trả nợ Ngân hàng. Hiện nay, trên nhà đất có ông, vợ ông là bà Bùi Kim T cùng các con là cháu Dương Ngọc L1 và cháu Dương Hồng H sinh sống.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện, các tài liệu giấy tờ kèm theo và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là ông Dương Văn N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ và các con ông N. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Toà án làm việc, không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Toà án phối hợp với chính quyền địa phương ghi lời khai của ông N như trên. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến Tòa án làm việc nhưng bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
không đến Tòa án làm việc, do đó, Tòa án không tiến hành lấy lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cũng như tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự trong vụ án được.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trên và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn là ông Dương Văn N thanh toán cho Ngân hàng A1 tổng số tiền tạm tính đến hết 26/4/2024 là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng. Và buộc ông Dương Văn N phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp ông N không thanh toán khoản đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng A1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp luật của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn, và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặt tại phiên tòa, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Dương Văn N thanh toán cho Ngân hàng A1 tổng số tiền tạm tính đến hết 26/4/2024 là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng. Và buộc ông Dương Văn N phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng trên và các Giấy nhận nợ kèm theo; Ngân hàng A1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp ông N không trả nợ; Và quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ngân hàng A1 khởi kiện yêu cầu ông Dương Văn N thanh toán tiền nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng, các Giấy nhận nợ và Hợp đồng thế chấp tài sản nên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có địa chỉ, nơi cư trú và tài sản thế chấp là bất động sản tại huyện Đ, thành phố Hà Nội, do vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, bị đơn là ông Dương Văn N đã có lời khai xác nhận khoản nợ và việc thế chấp tài sản của gia đình bị đơn với Ngân hàng A1 nhưng sau đó không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành gửi hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc và không gửi ý kiến bằng văn bản đến Tòa án nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Việc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc đồng nghĩa với việc đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về pháp luật áp dụng giải quyết trong vụ án: Quan hệ vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nội dung hình thức của giao dịch dân sự trên phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm 2015. Do bị đơn vị phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án. Vì vậy, pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền nợ tạm tính đến hết 26/4/2024 là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng và các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong
toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV 201901075/HĐTD ngày 21/02/2019 và các Giấy nhận nợ ngày 27/02/2019, ngày 04/3/2019, ngày 05/3/2019, ngày 06/3/2019 và ngày 19/4/2019, xét thấy: Nội dung Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ trên là phù hợp các Điều từ 463 đến 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho bị đơn. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng như trên là phù hợp với các Điều từ 463 đến 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không trả nợ đúng hạn, xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 819/2015/HĐTC, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/5/2015 tại Văn phòng C thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 24(3), tờ bản đồ số 4, diện tích 82,8m², tại địa chỉ thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 500584, Số vào sổ cấp GCN: 3601.QĐ-UBND.2011/CH.00286.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 05/10/2011 mang tên ông Dương Văn N, được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện Đ ngày 27/5/2015 là phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm. Ông Dương Văn N tự nguyện đem tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thế chấp cho Ngân hàng A1 để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn các khoản phí và chi phí khác phát sinh nếu có. Do đó, nếu ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ pháp luật và được chấp nhận.
Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng A1 thì ông Dương Văn N còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết các khoản nợ.
[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 3 Điều 159; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân
sự 2015; Điều 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 466, 468, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với ông Dương Văn N.
- Buộc ông Dương Văn N phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền nợ tạm tính đến hết 26/4/2024 là 986.781.766 đồng (chín trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 599.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 26.919.369 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 360.862.397 đồng và các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV 201901075/HĐTD ngày 21/02/2019 và các Giấy nhận nợ ngày 27/02/2019, ngày 04/3/2019, ngày 05/3/2019, ngày 06/3/2019 và ngày 19/4/2019.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Dương Văn N không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 24(3), tờ bản đồ số 4, diện tích 82,8m², tại địa chỉ thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 500584, Số vào sổ cấp GCN: 3601.QĐ-UBND.2011/CH.00286.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 05/10/2011 mang tên ông Dương Văn N để thu hồi nợ.
Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng N1 thì ông Dương Văn N còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 đến khi trả hết các khoản nợ.
- Về án phí: Ông Dương Văn N phải chịu 41.603.000 đồng (bốn mươi mốt triệu, sáu trăm linh ba nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.201.000 đồng (hai mươi triệu, hai trăm linh một nghìn đồng) theo Biên lai Số 0016849 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Anh Tuấn (Đã ký) |
Bản án số 21/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 21/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N1 - Ông Dương Văn N
