|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trí Dũng
Ông Nguyễn Đức Cường
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2024/ TLST – HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXX-ST, ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/TB-TA, ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cúc H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Hà Xuân N, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Cúc H trình bày: Chị và anh Hà Xuân N kết hôn với nhau vào ngày 17/2/2012, có đăng ký tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2021 thì sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, anh N chơi bời không quan tâm đến gia đình. Đến đầu năm 2024, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đề nghị TAND huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy báo nhiều lần cho anh N ( bố đẻ anh N nhận thay) nhưng anh N đều vắng mặt, không đến Toà án làm việc theo giấy báo, do vậy Toà án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản ghi lời khai của ông Hà Xuân L (bố đẻ anh N), ngày 11/3/2024, ông L cho biết:
Anh N và chị H kết hôn ngày 17/2/2012, có đăng ký tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống cùng gia đình ông tại khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Thời điểm đầu năm 2024, anh chị có sảy ra mâu thuẫn, cãi vã nên chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở huyện H. Anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn chung sống với nhau nữa. Anh N đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về nhà. Các giấy báo và văn bản tố tụng của Toà gửi cho anh N, ông nhận thay thì đều đã đưa lại cho anh N. Anh N nói lại với ông là bận đi làm nên không đến Toà án làm việc được. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh, anh K đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do anh bận đi làm nên anh đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt.
Về con chung: Anh N và chị H có 02 con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị H. Quan điểm anh N trao đổi lại với ông là đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng các con chung vì các cháu đang ở ổn định với chị H.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh N và chị H không có tài sản chung, nợ chung.
3. Ý kiến của con chung: 02 con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013 đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị H sau khi bố mẹ ly hôn vì cháu đang ở ổn định cùng mẹ và mẹ chăm sóc tốt cho các cháu.
4. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:
- + Xử cho chị Lê Thị Cúc H được ly hôn anh Hà Xuân N.
- + Về con chung: Giao con chung là các cháu Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Lê Thị Cúc H và bị đơn là anh Hà Xuân N, chị H và anh N đều có nơi cư trú tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị H. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh N nhưng anh N không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh N.
- [2]. Cuộc hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/2/2012, có đăng ký tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau kết hôn vợ chồng anh chị cùng nhau sinh sống tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Lời trình bày của các đương sự và chứng cứ thu thập, xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương xác định: trong cuộc sống hôn nhân của anh chị có sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, đến đầu năm 2024, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh N không có biện pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Nay chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn anh N, xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị H và anh N là mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh N là phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Anh N và chị H có 02 con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị H. Chứng cứ thu thập được cho thấy, các con chung đều đã đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị H và kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, chị H đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và bảo đảm cho các con chung có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Chị H có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định. Anh N thường vắng mặt tại địa phương, thiếu sự quan tâm chăm sóc đối với con chung. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung, cần giao các con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- [4] Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
- [5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- [6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
3
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.
- 1. Xử: cho chị Lê Thị Cúc H được ly hôn anh Hà Xuân N.
- 2. Về con chung: Giao 02 con chung là Hà Huy A, sinh ngày 29/4/2012 và Hà Diễm M, sinh ngày 25/7/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị H tự nguyện không yêu cầu. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- 3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- 4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023, số 0002143, ngày 26/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khanh |
4
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Lê Thị Cúc H ly hôn anh Hà Xuân N
