|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày: 25 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hào.
2. Ông Bùi Thế Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại nhà văn hóa cộng đồng xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Lô Văn Đ. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1968 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Mù chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn T (đã chết) và bà Chương Thị C (Đã chết); Vợ Lê Thị Đ1 (đã chết), con có 02 con lớn nhất sinh năm 1991 nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 05/4/2024 theo Quyết định truy nã số 02 ngày 01/6/2016 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn H. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
Những người làm chứng:
- Anh Vi Văn K, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Kha Văn C1. Sinh năm 1982. Nơi cư trú: Bản Xiềng, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 08 tháng 04 năm 2016, Vi Văn K sinh năm 1988, trú tại bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An điều khiển xe máy đến nhà Kha Văn C1 sinh năm 1982, trú tại bản Xiềng, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An và rủ C1 đi mua ma túy để sử dụng thì Kha Văn C1 đồng ý và ngồi lên xe máy cùng Vi Văn K đi đến nhà của Lô Văn Đ tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, thấy Đ đang ngồi một mình trong nhà, K và C1 vào gặp Đ, Vi Văn K nói với Lô Văn Đ: “Bán cho em một trăm”. Lô Văn Đ cầm tiền rồi xé một mảnh giấy từ bao thuốc lá Con Cò đi lại giường ngủ của mình lấy gói ma túy (Heroin) chia một ít vào mảnh giấy bao thuốc lá Con Cò gói lại đưa cho K. Vi Văn K cầm gói ma túy vừa mua mở ra lấy một ít rồi cùng Kha Văn C1 sử dụng ngay tại nhà của Lô Văn Đ. Khi Vi Văn K và Kha Văn C1 sử dụng ma túy Lô Văn Đ nhìn thấy nhưng không nói gì để mặc cho K và C1 sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma túy, số ma túy còn lại Vi Văn K gói lại bỏ vào túi quần bên phải đang mặc rồi ra lấy xe máy chở Kha Văn C1 về nhà C1. Sau đó, Vi Văn K đưa xe máy về nhà cất rồi đi bộ ra khu vực cầu N, xã B để tiếp tục sử dụng số ma túy còn lại. Đến khoảng 20 giờ ngày 08/04/20216, khi Vi Văn K đang đứng tại cầu N thuộc bản N, xã B thì bị Công an huyện C, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang Vi Văn K đang tàng trữ trái phép một gói ma túy trong túi quần bên phải. Ngày 11/4/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An đã ra Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp đối với Lô Văn Đ về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nhưng Lô Văn Đ đã bỏ trốn. Ngày 01/6/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định truy nã đối vớ Lô Văn Đ. Đến ngày 05/4/2024, Lô Văn Đ bị bắt theo Quyết định truy nã.
Kết luận giám định số 485/KL-PC54(MT) ngày 10 tháng 4 năm 2016 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn K gửi tới giám định là chất ma túy (Heroine). Chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Vi Văn K có trọng lượng là 0,015 gam (không phẩy không trăm mười lăm gam).
Cáo trạng số 26/CT-VKS-CC ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An truy tố Lô Văn Đ về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 và khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lô Văn Đ mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; và 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Lô Văn Đ mức án từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện loại đang lưu hành, đã được niêm phong là vật chứng còn lại của Vi Văn K. Truy tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) do bị cáo Lô Văn Đ phạm tội mà có.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lô Văn Đ đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nhận tội và không có tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sau khi bị cáo Lô Văn Đ bị bắt giữ Cơ quan điều tra đã tiếp tục lấy lời khai của Kha Văn C1, còn đối với Vi Văn K hiện nay không có mặt tại địa phương nhưng thời điểm năm 2016 đã có toàn bộ lời khai, xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của chứng người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/4/2016 tại nhà ở của mình thuộc bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An Lô Văn Đ đã có hành vi bán 01 (một) gói ma túy (H2) cho Vi Văn K với số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng), đồng thời cho Vi Văn K và Kha Văn C1 sử dụng trái phép chất ma túy ngay tại nhà ở của Lô Văn Đ. Hành vi của bị cáo Lô Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Bị cáo thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trước thời điểm 00 giờ ngày 01/01/2018 (Ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực). Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi của bị cáo Lô Văn Đ thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Làm mất trật tự trị an trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi “gieo cái chết trắng”, và đồng thời chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở, bị cáo nhận thức được các hành vi của mình thực hiện là vi phạm nhưng vẫn cố ý thực hiện, chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường quy định của pháp luật, sau khi hành vi của bị cáo bị phát hiện đã bỏ trốn để Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành truy nã. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy 0,015 gam heroine thu giữ của Vi Văn K đã được sử dụng để giám định chất ma túy hết, số vật chứng còn lại một mảnh giấy bao thuốc lá con cò và 01 phong bì bưu điện đã mở niêm phong là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.
[7] Đối với số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng) bị cáo Lô Văn Đ đã bán ma túy cho Vi Văn K là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần truy thu để nộp ngân sách Nhà nước là đúng quy định.
[8] Đối với Vi Văn K là người đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng khối lượng ma túy không đủ để xử lý trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An đã giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật. Đối với Kha Văn C1 là người đã cùng Vi Văn K sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Lô Văn Đ Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giáo dục. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực P thuộc bản Tông, xã B là người không rõ tên tuổi địa chỉ nên không đủ căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); khoản 3 Điều 7; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lô Văn Đ: 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (H1) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lô Văn Đ phải chấp hành: 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện loại đang lưu hành, đã được niêm phong (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 27 ngày 12/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An).
Truy tịch thu số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng) do bị cáo Lô Văn Đ thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn Đ.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Lô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lô Văn Điền - Mua bán trái phép chất ma túy
