Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/DS-PT
Ngày 08 - 5 - 2024
V/v: Tranh chấp chia thừa kế

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Hiếu.

Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên, Ông Cầm Xuân Thuỷ.

Thư ký phiên toà: Bà Quàng Hồng Nết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Bà Phạm Minh Phương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 4 và ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2023/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023, về việc Tranh chấp chia thừa kế.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1937; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Trần Văn C, sinh năm 1961, nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Lương Thị U, sinh năm 1976; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Luật sư Trần Bích L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

+ Ông Trần Xuân T, bà Trần Thị H, bà Phạm Thị L1 - Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Bà H có mặt, ông T, bà L1 vắng mặt.

+ Ông Hà Trọng Đ, ông Trần Ngọc C1- Luật sư công ty L5 và cộng sự. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Ông Trần Văn C, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Ông Trần Văn T1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Ông Trần Văn Á, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Ông Trần Văn P, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Ông Trần Văn L2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Có mặt.

+ Anh Trần Minh P1 và anh Trần Phú N; cùng nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; anh P1 có mặt, anh N vắng mặt.

Người kháng cáo: anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N, bà Lương Thị U, ông Trần Văn L2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị B và người đại diện của nguyên đơn trình bày như sau:

Vợ chồng bà Nguyễn Thị B và ông Trần Văn T2 có một diện tích đất tại bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, nguồn gốc đất là do vợ chồng bà khai hoang mà có; đất đã được cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà vào năm 2000. Ông bà có tất cả bảy người con gồm: Trần Thị Đ1, Trần Văn C, Trần Văn T1, Trần Văn Á, Trần Văn P, Trần Văn L2, Trần Văn L3 (đã chết năm 2017). Ngày 15/02/2004, vợ chồng ông bà có làm giấy uỷ quyền sử dụng đất cho con trai tôi là Trần Văn L3 và con dâu là Lương Thị U để đi vay Ngân hàng. Đến tháng 8/2004 ông Trần Văn T2 đột ngột qua đời do tai nạn giao thông nhưng không để lại di chúc gì về mảnh đất trên. Ngày 01/9/2006, bà B có làm giấy quyền thừa kế toàn bộ mảnh đất trên cho con trai là Trần Văn L3 và con dâu là Lương Thị U nhưng chưa có sự họp bàn thống nhất của các con trong cả gia đình mà chỉ có chữ ký xác nhận của hai con trai là Trần Văn C, Trần Văn L2. Cùng năm 2006, con trai Trần Văn L3 có nhờ bà xác nhận mượn bìa đỏ để đi vay ngân hàng, không ngờ đến năm 2010 thì đã làm thủ tục sang tên bìa đỏ đứng tên Trần Văn L3 và Lương Thị U. Hiện nay, bà đã tuổi cao, sức yếu nhưng có nguyện vọng là lấy một số đất để làm chỗ thờ cúng hương hoả tổ tiên, tạo thuận tiện cho các con cháu xa gần trong các ngày đại sự của gia đình và chia phần diện tích đất cho các con mỗi người được một phần. Tuy nhiên, con dâu là Lương Thị U nhất quyết không đồng ý với yêu cầu này, qua các lần hoà giải do Ban Q và UBND xã C tổ chức và cho rằng mảnh đất trên đã đứng tên mình nên mình có toàn quyền sử dụng, thích cho ai thì cho, không cho thì thôi, còn thích kiện đi đâu thì kiện. Vì vậy, đã gây bức xúc đối với các anh em trong gia đình. Do đó, bà viết đơn khởi kiện đề nghị Toà án: Chia thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC911644, được vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 26/11/2010 do UBND huyện S.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 27 tháng 9 năm 2023 bà có thể hiện quan điểm về Chia thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC911644, được vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 26/11/2010 là chia di sản thừa kế của ông T2 và của anh Trần Văn L3 đối với diện tích đất này.

Bị đơn chị Lương Thị U và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Vào năm 1997 chị U kết hôn với anh Trần Văn L3 là con trai út của ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị Bát . Sau khi cưới chị U và chồng về ở cùng bố mẹ. Khi ở cùng bố mẹ chồng, ông T2 - bà B có tuyên bố là cho vợ chồng L3 - Uyên toàn bộ diện tích đất của ông bà. Còn phần của các anh chị khác đã được Đảng và nhà nước cấp đất ở ổn định hết rồi. Sau khi bố mẹ chồng cho vợ chồng nhà chị U đã làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chính chủ vợ chồng L3 - U. Tuy nhiêu đến năm 2017 do bệnh tật anh L3 chết và không để lại di chúc. Sau đó chị U và các con vẫn sử dụng mảnh đất mà bố mẹ chồng đã cho. Chị U đã xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 trên diện tích đất này.

Hiện nay nhà chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế là diện tích đất của bố mẹ, chị U không đồng ý vì diện tích này đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị rồi không có tên những người khác. Nay nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế thì phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới chia được nên đề nghị Tòa án chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án ra Tòa án tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền. Nếu phía nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì chị sẽ nhất trí cho lại phía nguyên đơn 01 diện tích đất có chiều rộng mặt đường là 10m và sâu vào hết đất.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cũng cho rằng việc bà B yêu cầu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của anh L3 là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và quá trình thực hiện giải quyết vụ án Tòa án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa cho bị đơn và người đại diện theo ủy quyền. Đối với vấn đề yêu cầu chia thừa kế thì không nhất trí vì không có căn cứ để chứng minh bà Nguyễn Thị B - ông Trần Văn T2 có quan hệ vợ chồng, các ông bà Trần Thị Đ1, Trần Văn C, Trần Văn T1, Trần Văn Á, Trần Văn P, Trần Văn L2, Trần Văn L3 có quan hệ cha, mẹ con với bà Nguyễn Thị B- ông Trần Văn T2, đề nghị Tòa áp dụng điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ1, Trần Văn C, Trần Văn T1, Trần Văn Á, Trần Văn P, Trần Văn L2 trình bày: Diện tích đất hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng L3 – Uyên là tài sản của ông T2 - bà B. Khi vợ chồng L3 – U đi làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sửu dụng đất chưa được sự nhất trí của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sau đó anh L3 chết vào năm 2017, chị U hiện nay đã lấy chồng mới. Nay yêu cầu Tòa án xem xét chia thừa kế diện tích đất của bố mẹ cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật và nhất trí với các ý kiến mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tại phiên hòa giải.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh P1 và anh Trần Phú N (là con đẻ của chị Lương Thị U và anh Trần Văn L3) vắng mặt, có người đại diện theo ủy quyền trình bày: Nhất trí hoàn toàn với lời trình bày và các ý kiến của chị Lương Thị U, không có ý kiến bổ sung gì khác. Không có yêu cầu chia dia sản thừa kế của anh Trần Văn L3.

Ngày 13/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã đã tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần diện tích đất có tranh chấp: Tổng diện tích đất là 6492,4m², trong đó: đất ở nông thôn là 400m², đất trồng cây lâu năm là 6092,4m² (Có sơ đồ kèm theo); cùng toàn bộ tài sản trên đất (có kê chi tiết kèm theo).

Ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự của UBND huyện S, tỉnh Sơn La tiến hành định giá tài sản đang có tranh chấp như sau:

  • - Đối với đất: Do trong thời gian 02 năm trở lại đây không có giao dịch chuyển nhượng nào tại khu vực này nên HĐĐG áp dụng bảng giá đất theo Quyết định 43, ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh S ban hành bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2020 – 2024) để xác định giá đất.
  • - Đối với giá cây cối hoa màu áp dụng Quyết định số 01/2021/QĐ – UBND ngày 21/01/2021 của UBND tỉnh S: Quyết định quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về cây cối, hoa màu khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Sơn La.
  • - Đối với giá các công trình xây dựng: Giá tài sản theo Quyết định 1668, ngày 01/7/2019 của UBND tỉnh S quy định đơn giá xây dựng của một số loại công trình; Phần hao mòn tài sản, khấu hao tài sản theo quy định tại Thông tư 45, ngày 07/5/2018 của Bộ T4).

(Có bảng kê chi tiết kèm theo)

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147; Khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các khoản 1, khoản 2 Điều 213; các Điều 649, 650, 651, 655 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận nội dung đơn khởi kiện về việc tranh chấp chia thừa kế của bà Nguyễn Thị Bát . Chia thừa kế như sau:

1. 1. Chia di sản thừa kế của anh Trần Văn L3 cho bà Nguyễn Thị B là quyền sử dụng đất được đánh dấu là thửa đất lô số 1, số 2 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có tổng giá trị là 104.604.433đ. Chị Lương Thị U, Trần Minh P1, Trần Phú N phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà B phần giá trị di sản thừa kế còn thiếu là 47.953.708đ.

Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau:

  • * Thửa đất thứ nhất được xác định từ điểm A1 đến các điểm A2, A3, A4. Có tổng diện tích là: 409,5m² là đất trồng cây lâu năm, trong đó có 28,7m² nằm trong hành lang giao thông. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A4 đến A3, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 2, chiều dài cạnh là 7,18m + 109,84m = 117,02m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A1 đến A2, được chia thành từng đoạn gồm: 7,18m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 55,46m + 0,15m + 16,97m + 14,87m + 7,79m + 15,83m = 118,25m. Giáp bà U (các đoạn 7,18m + 55,46m + 0,15m), ông Đ (các đoạn 16,97m + 14,87m), ông H1 (các đoạn 7,79m + 15,83m)
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A1 đến điểm A4, chiều dài cạnh là 4,11m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A2 đến A3, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 0,69m.

    Tài sản trên đất gồm có: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 5 cây, Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 16 cây, Hồng xiêm từ 3 – 5 năm: 2 cây.

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • * Thửa đất thứ hai được xác định từ điểm A4 đến các điểm A3, A6, A5. Có tổng diện tích là: 466,1m² là đất trồng cây lâu năm, trong đó có 28,7m² nằm trong hành lang giao thông. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A5 đến A6, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 3, chiều dài cạnh là 7,18m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 108,82m = 116m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A4 đến A3, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 1, chiều dài cạnh là 7,18m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 109,84m = 117,02m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A4 đến điểm A5, chiều dài cạnh là 4,11m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A3 đến A6, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4m.

    Tài sản trên đất gồm có: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 9 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 9 cây; Hồng xiêm từ 3 – 5 năm: 3 cây; Me cho quả từ 3- 5 năm: 01 cây; Chanh cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây.

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1. 2. Giao cho chị Lương Thị U cùng các con là Trần Minh P1, Trần Phú N được quyền quản lý sử dụng thửa đất được đánh dấu là lô số 3 cùng toàn bộ tài sản trên đất là di sản thừa kế chưa chia của anh L3 đối với chị Lương Thị U và Trần Minh P1, Trần Phú N.
  • * Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau: được xác định từ điểm A5 đến các điểm A6, A7, A8. Có tổng diện tích là: 1982,6m². Trong đó: 1931,9m² là đất trồng cây lâu năm (nằm trong tổng diện tích này có 162,3m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 50,7m² là đất ở nông thôn. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A7 đến A8, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 4, chiều dài cạnh là 83,72m + 20,18m + 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) = 110,96m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A5 đến A6, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số hai, chiều dài cạnh là 7,18m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 108,82m = 116m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A5 đến điểm A8, chiều dài cạnh là 19,62m + 3,93m = 23,55m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A6 đến A7, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 11,83m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 22 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3 - 5 năm: 52 cây; Hồng xiêm cho quả từ 3 – 5 năm: 06 cây; Cây cóc cho quả từ 3 - 5 năm: 01 cây; Chanh cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây; Xoài cho quả từ 3 – 5 năm: 6 cây; Cây ổi cho quả từ 3 – 5 năm: 03 cây; Dừa cho quả trên 10 năm: 01 cây; Táo cho quả trên 10 năm: 02 cây.
    • - Các công trình xây dựng: 01 ngôi nhà xây mái bằng (ký hiệu là N1 trong sơ đồ) có diện tích là 130,4m², 01 phần bán mái (ký hiệu là N2 trong sơ đồ) có diện tích là 14,1m², 01 nhà bếp + nhà vệ sinh + nhà tắm (ký hiệu là N18 trong sơ đồ) có diện tích là 31,5m², 01 sân gạch (có ký hiệu N3 trong sơ đồ) nằm ở phía trước (hướng Nam) của ngôi nhà xây mái bằng có diện tích là 119,1m², cổng lối vào sân gạch (trụ cổng xây gạch chỉ x 2 trụ - ký hiệu là N4 trong sơ đồ) và 01 cổng sắt có diện tích là 5,6m², 01 nhà tắm ngoài trời (ký hiệu là N15 trong sơ đồ) có diện tích là 1,6m²; 01 giếng nước thành xây bằng gạch (ký hiệu là N16 trong sơ đồ) có kích thước là 0,5 x 0,5 x 17,0 x 3,14 = 13,345m³.

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1.3. Chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Đ1 của thửa đất được đánh dấu là lô số 4 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có tổng giá trị là: 83.090.000đ. Bà Đ1 phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các tài sản nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 41.241.660đ.
  • * Đặc điểm cụ thể của thửa đất như sau: được xác định từ điểm A7 đến các điểm A8, A9, A10. Có tổng diện tích là: 441,7m². Trong đó: có 361m² là đất trồng cây lâu năm (có 28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 80,7m² là đất ở nông thôn. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A9 đến A10, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 5, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 82,67m = 109,91m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A7 đến A8, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 3, chiều dài cạnh là 83,72m + 20,18m + 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) = 110,96m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A8 đến điểm A9, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A7 đến A10, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4,03m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 06 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 10 cây; Chanh cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây; Cây dừa trên 10 năm: 01 cây; Cây vú sữa cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây.
    • - Các công trình xây dựng: một phần của nhà kho (có ký hiệu trong sơ đồ là N12), có diện tích là 11,8m².

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1.4. Chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn C của thửa đất được đánh dấu là lô số 5 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có giá trị là 81.974.000đ. Ông C phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các tài sản chung nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 40.649.250đ.
  • * Đặc điểm cụ thể của thửa đất như sau: được xác định từ điểm A9 đến các điểm A10, A11, A12. Có tổng diện tích là: 437,3m². Trong đó: có 356,6m² là đất trồng cây lâu năm (28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 80,7m² là đất ở nông thôn. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A12 đến A11, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 6, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 81,53m = 108,77m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A9 đến A10, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 4, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 82,67m = 109,91m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A9 đến A12, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A10 đến A11, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4,04m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 04 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 12 cây; Xoài cho quả trên 10 năm: 02 cây;
    • - Các công trình xây dựng: một phần của nhà kho (có ký hiệu trong sơ đồ là N13), có diện tích là 10,3m²; một phần của nhà kho (có ký hiệu trong sơ đồ là N8), có diện tích là 6,6m²; 01 bán mái lập tôn, cột kèo bằng sắt (có ký hiệu trong sơ đồ là N5), có diện tích là 25m², diện tích phần lớn nằm trong diện tích đất hành lang giao thông; 01 bể nước (có ký hiệu trong sơ đồ là N14), có diện tích là 7m².

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác

  • 1.5. Chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T1 của thửa đất được đánh dấu là lô số 6 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có giá trị là 68.684.000đ. Ông T1 phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các cây cối trên đất nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 27.359.250đ.
  • * Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau: được xác định từ điểm A12 đến các điểm A11, A14, A13. Có tổng diện tích là: 432,8m². Trong đó: Có 352,1m² là đất trồng cây lâu năm (28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 80,7m² là đất ở nông thôn.
  • Có tứ cận tiếp giáp như sau:

    • - Phía Đông được xác định từ điểm A13 đến A14, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 7, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 80,40m = 107,64m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A12 đến A111, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 5, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 81,53m = 108,77m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A12 đến A13, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm All đến A14, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4,04m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 01 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 17 cây; Mít cho quả từ 5 – 10 năm: 01 cây; Chanh cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây.
    • - Các công trình xây dựng: một phần của ngôi nhà xây cấp 4, mái lập ngói (có ký hiệu trong sơ đồ là N6), có diện tích là 42,7m², phần lớn diện tích nằm trong hành lang giao thông và một phần nằm trong diện tích đất ở nông thôn; một phần của nhà kho (có ký hiệu trong sơ đồ là N9), có diện tích là 9,3m².

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1.6. Chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Á của thửa đất được đánh dấu là lô số 7 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có giá trị là 101.496.000đ. Ông Á phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các tài sản chung nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 60.171.250đ.
  • * Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau: được xác định từ điểm A13 đến các điểm A14, A15, A16. Có tổng diện tích là: 428,3m². Trong đó: Có 347,6m² là đất trồng cây lâu năm nằm (28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 80,7m² là đất ở nông thôn. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A16 đến A15, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 8, chiều dài cạnh là 7,05m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 79,27m = 106,5m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A13 đến A14, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 6, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 80,40m = 107,64m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A13 đến A16, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A14 đến A15, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4,04m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả trên 10 năm: 11 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 04 cây; Hồng xiêm cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây.
    • - Các công trình xây dựng: một phần của ngôi nhà xây cấp 4, mái lập ngói (có ký hiệu trong sơ đồ là N7), có diện tích là 41,6m², phần lớn diện tích nằm trong hành lang giao thông và một phần nằm trong diện tích đất ở nông thôn. 01 bể nước (có ký hiệu trong sơ đồ là N14).

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1.7. Chia thừa kế là di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn P của thửa đất được đánh dấu là lô số 8 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có giá trị là 45.404.000đ. Ông P phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các tài sản chung nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 4.079.250đ.
  • * Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau: được xác định từ điểm A16 đến các điểm A15, A18, A17. Có tổng diện tích là: 424,1m². Trong đó: 397,6m² là đất trồng cây lâu năm nằm (28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) và 26,5m² là đất ở nông thôn.
  • Có tứ cận tiếp giáp như sau:

    • - Phía Đông được xác định từ điểm A17 đến A18, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 9, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 98,47m = 105,53m.
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A16 đến A15, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 7, chiều dài cạnh là 7,05m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 20,18m + 79,27m = 106,5m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A16 đến A17, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A15 đến A18, giáp đất nhà ông H1, chiều dài cạnh là 4,02m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả từ 5- 10 năm: 01 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3-5 năm: 25 cây; Hồng xiêm cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây; Bưởi cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây.
    • - Các công trình xây dựng: một nhà tắm + vệ sinh (có ký hiệu trong sơ đồ là N17), có diện tích là 3,9m², một phần của chuồng gà (có ký hiệu trong sơ đồ là N10), có diện tích là 10,2m².

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

  • 1.8. Chia thừa kế là di sản thừa kế của ông Trần Văn T2 là quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn L2 của thửa đất được đánh dấu là lô số 9 cùng toàn bộ tài sản trên đất, có giá trị là 126.350.000đ. Ông L2 phải trả cho chị Lương Thị U và anh Trần Minh P1, anh Trần Phú N giá trị các tài sản chung nằm trong khối tài sản chung của anh L3 - chị U là 85.025.250đ.
  • * Thửa đất có đặc điểm cụ thể như sau: được xác định từ điểm A17 đến các điểm A18, A19, A20, A21, A22. Có tổng diện tích là: 1470m² đều là đất trồng cây lâu năm, trong đó có 28,2m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất hành lang giao thông. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Đông được xác định từ điểm A19 đến các điểm A20, A21, A22, giáp với đất của ông Đ2 và đất ông P2, chiều dài cạnh là 42,30m + 7,49m + 17,37m + 17,59m + 3,72m + 7,30m + 10,98m + 5,38m + 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông).
    • - Phía Tây được xác định từ điểm A17 đến A18, giáp với thửa đất được đánh dấu là thửa số 8, chiều dài cạnh là 7,06m (đoạn này nằm trong diện tích đất hành lang giao thông) + 98,47m = 105,53m.
    • - Phía Nam giáp đường quốc lộ 4G, được xác định từ điểm A17 đến A22, chiều dài cạnh là 4,04m.
    • - Phía Bắc được xác định từ điểm A18 đến A19, giáp đất nhà ông H1 chiều dài cạnh là 13,06m và giáp đất ông Đ2 chiều dài cạnh là 11,96m.
  • * Tài sản trên đất gồm có:
    • - Cây ăn quả: Nhãn ghép cho quả từ 5 - 10 năm: 18 cây; Nhãn ghép cho quả từ 3 - 5 năm: 55 cây; Đu đủ cho quả từ 3 – 5 năm: 01 cây; Nghệ: 150 khóm.
    • - Các công trình xây dựng: một phần của chuồng gà (có ký hiệu trong sơ đồ là N11), có diện tích là 19,5m². 01 bể phốt ngầm.

    Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.

(Toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất được mô tả có sơ đồ kèm theo).

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai để thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu đất cùng các tài sản trên đất và cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cùng các tài sản trên đất theo quy định.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chị Lương Thị U, anh Trần Phú N, anh Trần Minh P1, ông Trần Văn L2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Chị Lương Thị U, anh Trần Phú N, anh Trần Minh P1 được hoàn trả mỗi người 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000729 ngày 17/10/2023, phiếu thu số 0000735 ngày 20/10/2023, phiếu thu số 0000725 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Ông Trần Văn L2 được hoàn trả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000728 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 08/5/2024).

“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi xuất quy định tại điều 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015”.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7º, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lại Thị Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 21/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger