|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 25/4/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và ông Huỳnh Khắc Hiếu
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 198/2023/TLST-DS ngày 08/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-DS ngày 12/3/204 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QÐST-DS ngày 02/4/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Thiều Thị Mỹ, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Khu phố 1, phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Có mặt
-Bị đơn: Ông Tống Văn Hoàng, sinh năm 1980 và bà Đặng Thị Liền, sinh năm: 1980
Địa chỉ: Khu phố 4, phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ trình bày: Khoảng tháng 9/2022, vợ chồng ông Tống Văn Hoàng và bà Đặng Thị Liền có mượn của bà Thiều Thị Mỹ 140.000.000đ, mượn để làm ghe cá, có viết giấy, không thỏa thuận lãi suất và hẹn khi nào có sẽ trả. Đến ngày 10/11/2022 (âm lịch) mượn tiếp số tiền 150.000.000đ. Tổng cộng số tiền mượn 290.000.000đ. Để làm tin thì vợ chồng ông Hoàng, bà Liền viết giấy thục nhà và hứa sẽ hoàn trả số tiền 290.000.000đ từ ngày 10/11/2022 đến ngày 30/3/2023. Nếu hết thời hạn trên mà ông Hoàng, bà Liền không trả số tiền trên thì giao ngôi nhà tại khu phố 4, phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cho bà Mỹ. Sự việc này có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Băng Trâm, bà Nguyễn Thị Thu Hà, ông Đặng Mâu. Đến hết tháng 3/2023 vợ chồng ông Hoàng, bà Liền cũng không chịu trả tiền cho bà Mỹ. Nay nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ khởi kiện yêu cầu tòa án buộc bị đơn ông Tống Văn Hoàng, bà Đặng Thị Liền trả số tiền 290.000.000đ và không yêu cầu trả lãi, thanh toán lại chi phí đo vẽ thẩm định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bà Thiều Thị Mỹ không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
-Bị đơn ông Tống Văn Hoàng, bà Đặng Thị Liền đã được tòa án triệu tập nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 166, Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 290.000.000đ; Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Bị đơn cư trú tại thành phố Tuy Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ cho bị đơn ông Tống Văn Hoàng, bà Đặng Thị Liền mượn tổng số tiền 290.000.000đ. Để làm tin thì giữa hai bên viết giấy thục nhà nhưng bản chất bị đơn mượn số tiền trên để làm ăn và trả nợ. Do đó cần xác định lại là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Vào khoảng tháng 9/2022, vợ chồng ông Tống Văn Hoàng và bà Đặng Thị Liền có mượn của bà Thiều Thị Mỹ 140.000.000đ, mượn để làm ăn, có viết giấy, không thỏa thuận lãi suất. Đến ngày 10/11/2022 (âm lịch) mượn tiếp số tiền 150.000.000đ. Để làm tin thì vợ chồng ông Hoàng, bà Liền viết giấy thục nhà và hứa sẽ hoàn trả số tiền 290.000.000đ từ ngày 10/11/2022 đến ngày 30/3/2023. Quá thời gian như thỏa thuận nhưng vợ chồng ông Hoàng, bà Liền vẫn không trả nợ cho bà Mỹ. Như vậy, bản chất ban đầu là bà Mỹ cho ông Hoàng, bà Liền mượn số tiền 290.000.000đ. Hai bên không viết giấy mượn tiền mà viết giấy thục nhà là để tạo niềm tin để nguyên đơn cho bị đơn mượn số tiền 290.000.000đ. Như vậy, sự việc vay tiền giữa hai bên là có thật. Phía bị đơn không thực hiện cam kết nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự 2015.
[4] Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến tòa làm việc, không có ý kiến trình bày hay yêu cầu phản tố, không xuất trình chứng cứ chứng minh việc trả nợ của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc 290.000.000đ (hai trăm chín mươi triệu đồng).
[5] Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xét
[6] Về chi phí tố tụng: Tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được chấp nhận”. Khoản 1 Điều 165 quy định “Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn 7.033.000đ.
[7] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 280, 463, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ. Buộc bị đơn ông Tống Văn Hoàng và bà Đặng Thị Liền phải trả cho nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ số tiền là 290.000.000đ (hai trăm chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị đơn ông Tống Văn Hoàng và bà Đặng Thị Liền phải chịu 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) án phí DS-ST.
Hoàn lại cho nguyên đơn bà Thiều Thị Mỹ 7.250.000đ (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DS-ST theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012712 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Tống Văn Hoàng, bà Đặng Thị Liền hoàn trả cho bà Thiều Thị Mỹ 7.033.000đ (bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn đồng) chi phí tố tụng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |
Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 21/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
