Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

“V/v không công nhận vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc và bà Tô Thị Lành.

Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 747/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Không công nhận vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Hẻm đường T, Tổ 04, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Hẻm đường T, Tổ 04, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu H tự nguyện tìm hiểu, được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân do không am hiểu pháp luật nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H thường xuyên xúc phạm bà. Hiện nay không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nên không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau được, do vậy bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà và ông H là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Bà và ông H có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 15/8/1995 và Nguyễn Hữu H1, sinh ngày 22/6/2001. Hiện nay cháu Thuý và Hùng đã đủ 18 tuổi và tự lập được nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu H mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không trình bày được quan điểm của mình về nội dung của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu giải quyết không công nhận vợ chồng với ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Hẻm đường T, Tổ 04, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về việc “Không công nhận vợ chồng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

[2] Bị đơn ông Nguyễn Hữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông H.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Hữu H có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay. Tại điểm b mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hữu H không được coi là vợ chồng. Do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa bà T và ông H không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Bà T yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hữu H nên cần chấp nhận.

[4] Về nuôi con chung: Các con của bà T và ông H đã đủ 18 tuổi và tự lập được, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà T và ông H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm b mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T, cụ thể như sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hữu H.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001450 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hữu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (25/4/2024), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Loan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI về không công nhận vợ chồng

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T và anh H mâu thuẫn nên yêu càu Toà án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger