Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 21/2024/DS-ST

Ngày 25 tháng 4 năm 2024

“V/v tranh chấp dân sự,

vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh, ông Nguyễn Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2023/TLST- DS ngày 17/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 26/3/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh D, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, cùng cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (ông D, bà T vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Ngọc T1, sinh năm 1979, cùng cư trú: 349, tổ H, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (ông K, bà T1 vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Thị Bích T2, sinh năm 1997, nơi cư trú: Tổ A, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị Á (1963- 2023) gồm:

    1. Đồng thừa kế ông Nguyễn Công B (1980 - 2022): Bà Phan Thị Thúy K1, sinh năm 1984 và Nguyễn Minh Q, sinh năm 2005; cùng cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

    2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, cùng cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ông bà và ông K, bà T1 gần nhà nên quen biết nhau. K, T1 đã vay tiền của ông bà mục đích để kinh doanh đại lý bia, do quen biết nên khi vay không có thế chấp, không có lập biên nhận. Cho vay 03 đợt như sau:

  • Lần 1: Ngày 27/12/2018 cho vay 300.000.000 đồng, đóng lãi từ ngày 02/9/2022 đến 03/6/2023 thì ngưng. Tính vốn lãi số tiền 461.160.000 đồng và lãi bổ sung đến 03/12/2023 số tiền 30.060.000 đồng. Tổng cộng số tiền 491.220.000 đồng.

  • Lần 2: Ngày 11/9/2019 cho vay 100.000.000 đồng không đóng lãi. Số tiền vốn, lãi đến 03/12/2023 là 185.000.000 đồng.

  • Lần 3: Ngày 10/9/2022 cho vay 200.000.000 đồng, không đóng lãi cho đến nay. Ngày 03/5/2023 trả vốn 100.000.000 đồng. Vốn và lãi số tiền 148.430.000 đồng.

Do đó nguyên đơn yêu cầu ông K, bà T1 phải trả tổng cộng số tiền 824.650.000 đồng gồm: Vốn 500.000.000 đồng + lãi 324.650.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả số tiền 200.000.000 đồng bao gồm số tiền của ông bà và số tiền của mẹ ruột bà T. Ông, bà xin được xét xử vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn, đại diện bị đơn trình bày: Thống nhất về việc có vay tiền của ông D, bà T vốn 400.000.000 đồng, vay của mẹ bà T (bà Nguyễn Thị Á) 100.000.000 đồng. Tổng cộng 500.000.000 đồng. Tuy nhiên đã đóng lãi 5%/tháng đối với số tiền 400.000.000 đồng nhiều năm. Nay do hoàn cảnh khó khăn nên tự nguyện trả số tiền 200.000.000 đồng (bao gồm 100.000.000 đồng phần của ông D, bà T và 100.000.000 đồng của mẹ bà T). Riêng đối với số tiền của mẹ bà T do đã chết nên sẽ trả cho ông D, bà T sau này nếu phát sinh tranh chấp trong thừa kế thì gia đình tự giải quyết, bị đơn không có trách nhiệm, không yêu cầu khấu trừ lãi đã trả. Đồng thời xin không đóng lãi. Về phương thức trả nợ thì xin được trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thúy K1 và ông Nguyễn Minh Q trình bày: Ông Nguyễn Công B là chồng bà K1, là cha ông Q đã chết năm 2022; ông B là con ruột bà Á. Việc ông K, bà T1 có vay tiền của bà Nguyễn Thị Á như thế nào thì ông, bà không biết.

Ông, bà có nghe bà Nguyễn Thị T (là em ruột của ông B) nói về số tiền ông K, bà T1 có vay của bà Nguyễn Thị Á 100.000.000 đồng. Ông, bà đồng ý cho bà T nhận số tiền 100.000.000 đồng từ ông K, bà T1 và không có tranh chấp gì. Do bận đi làm nên xin được vắng mặt khi xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống

nhất việc bà đã thỏa thuận với ông K, bà T1 về việc ông K, bà T1 trả cho bà và ông D số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Tuy nhiên anh ruột bà tên Nguyễn Công B đã chết nên bà chịu trách nhiệm nhận số tiền 100.000.000 đồng của ông K, bà T1 và sau này có tranh chấp về số tiền này bà hoàn toàn chịu trách nhiệm. Do bận việc nên xin được vắng mặt khi xét xử.

Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự về số tiền ông K, bà T1 trả cho ông D, bà T là 200.000.000 đồng (bao gồm 100.000.000 đồng của bà T và 100.000.000 đồng của bà Á) nhưng không hòa giải được về phương thức trả nợ nên vụ án không hòa giải thành.

Tại phiên tòa,

  • - Đương sự vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

  • - Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

    • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

    • + Về giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai, đối chất của các đương sự, ông K, bà T1 tự nguyện trả cho ông D, bà T số tiền 200.000.000 đồng được ông D, bà T chấp nhận nên công nhận sự tự nguyện của các đương sự. Buộc ông K, bà T1 phải trả cho ông D, bà T số tiền 200.000.000 đồng. Về phương thức trả nợ, bị đơn có yêu cầu trả mỗi tháng 500.000 đồng nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên không có căn cứ xem xét.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền; bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

  2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, và Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung:

  1. Về yêu cầu trả vốn:

    Nguyên đơn, bị đơn thống nhất, bị đơn đã cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng. Xét nguyên đơn, bị đơn xác lập giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Bị đơn không thực hiện trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng.

  2. Về lãi suất:

    Bị đơn yêu cầu không trả lãi được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không tính lãi đối với số tiền 200.000.000 đồng.

  3. Về phương thức trả nợ:

    Bị đơn xin trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên không có cơ sở xem xét. Do đó phương thức trả nợ sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

    • - Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 18.396.750 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

      Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 10.000.000 đồng.

    • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

  • - Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh D, bà Nguyễn Thị T.

    Buộc ông Nguyễn Tuấn K, bà Trần Thị Ngọc T1 trả cho ông Trần Thanh D, bà Nguyễn Thị T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Hoàn trả cho nguyên đơn ông D, bà T số tiền 18.396.750 (mười tám triệu, ba trăm chín mươi sáu ngàn, bảy trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu số 0003580 ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

    Bị đơn ông Nguyễn Tuấn K, bà Trần Thị Ngọc T1 phải chịu án phí số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

  1. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 21/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh D, bà Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger