Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-PT

Ngày 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và Ông Nguyễn Duy Phượng

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25/04/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLPT-HS ngày 22/3/2024 đối với các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS - ST ngày 06/02/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

* Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thế A, sinh ngày 04/7/2005; HKTT: Thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con bà Bùi Thị Q, sinh năm 1970. Tiền án, tiền sự: Không.Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Nguyễn Quốc A1, sinh ngày 09/11/2005; HKTT: Thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1979 và bà Lương Thị H1, sinh năm 1983. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc A1: bà Đỗ Minh Á - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

* Bị cáo không kháng cáo:

Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2000; Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2004; Đ2; Nguyễn Đức V; Vũ Đức V1; Dương Việt A2, (Đều vắng mặt).

* Bị hại: Anh Trần Xuân T, sinh ngày 10/06/2008; HKTT: Thôn D, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

* Đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Thế A là bà Bùi Thị Q sinh năm 1970. HKTT: Thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

* Đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quốc A1 là ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. HKTT: Thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/6/2023, Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2000 (gọi là Cường Q1) điều khiển xe mô tô BKS 29F1 - 488.81 chở Nguyễn Mạnh C sinh năm 2004 (gọi là Cường N) đi chơi quanh khu vực thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi đi đến khu vực cây xăng thị trấn L thì gặp 04 thanh niên (không rõ tên tuổi địa chỉ) đi hai xe mô tô, không gắn BKS. Lúc này 04 thanh niên trên dùng túi cát ném trúng xe của Nguyễn Mạnh C (Cường Quang) rồi bỏ chạy về hướng thành phố H. Thấy vậy C (C) tăng ga đuổi theo để đánh, trên đường đi Nguyễn Mạnh C (Cường Ngọt) gọi qua phần mềm M cho Vũ Đức V1 nói “anh vừa bị ném cát ở K, cầm đồ xuống đây đi” và hẹn nhau tại Công ty M2 gần cổng chào thành phố H. Lúc này Bùi Thế A và Nguyễn Đức V đang ngồi chơi tại nhà Vũ Đức V1 nên Vũ Đức V1 nói lại nội dung Cường Ngọt bị ném cát cho Bùi Thế A và Nguyễn Đức V nghe. Nguyễn Đức V, Vũ Đức V1 và Bùi Thế A cùng rủ nhau đi lấy hung khí để tìm nhóm nam thanh niên ném cát C (C) để đánh thì tất cả đều đồng ý. Vũ Đức V1 điều khiển xe mô tô BKS 89D2 - 008.89 của Bùi Thế A chở Bùi Thế A và Nguyễn Đức V ra khu vực gần nghĩa trang ở cánh đồng thôn M, xã N, huyện K. Nguyễn Đức V xuống xe lấy một con dao quắm dài khoảng 60cm và một thanh đao dài khoảng 1,2m mà Nguyễn Đức V đã cất giấu ở đó từ trước. Cả ba bị cáo cầm hung khí đi ra khu vực Công ty M2 như đã hẹn từ trước. Trong lúc này C (C ngọt) gọi điện cho Đào Long H2 hẹn ra khu vực công ty M2. Khi đó, H2 đang ngồi chơi điện tử cùng Nguyễn Quốc A1 nên rủ Quốc A1 đi thì Quốc A1 đồng ý. Nguyễn Quốc A1 lấy xe mô tô BKS 89B2 - 107.96 chở H2 ra khu vực cổng công ty M2 đợi. Lúc này xe 02 bị cáo C tiếp tục đuổi theo để đánh 04 thanh niên vừa ném cát mình nhưng không đuổi được. Khi đi đến khu vực đường đôi đối diện Hồ T, xã B thì xe 02 bị cáo C tiếp tục gặp khoảng 10 thanh niên lạ mặt khác đứng bên cổng Hồ Thiên Đ ném gạch, vỏ chai bia sang phía xe 02 bị cáo C nhưng không trúng ai. Hai bị cáo C tiếp tục đuổi theo đến vòng xuyến B thì không thấy nhóm nam thanh niên đâu nên quay lại đi về hướng huyện K. Khi đi đến khu vực Công ty M2 thì gặp Nguyễn Quốc A1 chở Đào Long H2, Vũ Đức V1 chở Bùi Thế A và Nguyễn Đức V (gọi chung là nhóm C). Lúc này Nguyễn Đức V đưa cho Đào Long H2 một con dao quắm, đưa cho C (C) một thanh đao. Sau đó cả nhóm đi theo hướng về trung tâm thành phố H với mục đích đi tìm nhóm nam thanh niên vừa ném 02 bị cáo C để đánh. Trên đường đi đến gần vòng xuyến chợ G, thành phố H thì gặp một nhóm gồm 06 nam thanh niên đi 03 xe mô tô, không gắn BKS, thấy nhóm của bị cáo C nên nhóm thanh niên trên vừa đi vừa ném vỏ chai bia về phía nhóm bị cáo C nhưng không trúng ai. Lúc này nhóm bị cáo C tăng ga đuổi theo để đánh nhưng không

đuổi được nên nhóm bị cáo C đi đến vòng xuyến Bưu Điện tỉnh Hưng Yên thì quay lại đi theo đường N hướng về xã B. Khi đi đến lối mở đối diện ngân hàng B thì nhóm bị cáo C gặp Dương Việt A2 đi xe mô tô BKS 89B1- 430.85 một mình nên Dương Việt A2 nhập vào nhóm của bị cáo C. Khi cả nhóm đi đến trước cửa quán T3 đường N, phường A, thành phố H (đối diện Đài truyền hình tỉnh H) thì gặp anh Phạm Nguyễn Đại D, sinh ngày 20/07/2006, HKTT: thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên chở Dương Quang H3 sinh ngày 28/12/2004, HKTT: K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên và Nguyễn Trịnh Duy Đ1 sinh ngày 24/10/2005, HKTT: Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (gọi là nhóm D) đi trên một xe mô tô BKS 89F1 - 427.36. Lúc này anh H3 vẫy tay trêu và chửi nhóm bị cáo C nên nhóm bị cáo C cầm đao, dao quắm tăng ga đuổi theo để đánh, thấy bị đuổi đánh nên nhóm anh D tăng ga bỏ chạy trên đường N hướng về xã B. Khi bỏ chạy đến trước cửa nhà anh Lê Văn T1 SN 1996, ở thôn T, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên thì anh D thấy nhà anh T1 có điện sáng, cửa mở nên điểu khiển xe rẽ vào nhà anh T1 để trốn, nhưng do phanh gấp nên anh D bị mất lái đã tự đâm xe vào cột biển báo giao thông trên vỉa hè phía trước cửa nhà anh T1 làm xe bị hư hỏng, anh D, anh H3, anh Đ1 bị ngã trầy xước người. Thấy nhóm bị cáo C đang đuổi đến, anh D, anh H3 bỏ chạy vào trong nhà anh T1 còn anh Đ1 bỏ chạy vào quán bia nhà chị Triệu Thị M1 SN 1990, ở gần chợ cóc thôn T, xã B, thành phố H để trốn. Lúc này nhóm của bị cáo C đuổi đến, bị cáo C (C) cầm đao, bị cáo H2 cầm dao quắm chạy vào nhà anh T1 để tìm, còn C (Cường Q1), Vũ Đức V1, Nguyễn Đức V, Nguyễn Quốc A1, Bùi Thế A, Dương Việt A2 đứng ở bên ngoài và đuổi theo anh Đ1 nhưng anh Đ1 trốn trong nhà chị M1 nên không đánh được. Thấy có nhóm cầm hung khí đuổi đánh nhau chạy vào trong nhà nên anh Trịnh Xuân T2 sinh ngày 10/06/2008, HKTT: thôn D, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên và anh Trần Đăng Q2 SN 2001, HKTT: thôn D, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên và anh Nguyễn Đức V sinh ngày 17/05/2006, HKTT: thôn T, xã H, thành phố H là nhân viên ở tại nhà anh T1 đi ra xem có việc gì. Lúc nay anh Q2 có nói “H2 ơi anh xin em, quán anh làm ăn” nhưng bị cáo H2 vẫn chửi bới yêu cầu những người vừa chạy vào trong quán ra ngoài. Khi anh T2 đi ra đứng ở cửa nhà anh T1 thì H2 nghĩ anh T2 là người trong nhóm của anh D nên H2 chửi bới rồi cầm dao quắm chém nhiều nhát trúng vào người anh T2 rồi bỏ đi. Khi nhóm bị cáo C đi ra ngoài đường thì nhìn thấy có khoảng 10 thanh niên cầm dao phóng lợn đang đừng ngoài đường, vì sợ bị đánh nên nhóm bị cáo C không đi thẳng về hướng K mà quay đầu xe đi về nhà theo hướng thành phố H ra đường T ra đường nối hai cao tốc, trên đường về bị cáo H2, bị cáo C (C) đã vứt con dao quắm, thanh đao đi.

Hậu quả anh Trần Xuân T bị thương tích tại vùng đỉnh đầu trái dài 5 cm, vết thương vùng gáy bờ nham nhở, vết thương vùng sau vai lưng dài khoảng 12 cm, vết thương khuỷu tay trái dài 5 cm. Anh Phạm Nguyễn Đại D bị rách da chảy máu ở trán trái, mí mắt trái, má trái. Anh Nguyễn Trịnh Duy Đ1 bị xước da chảy máu ở sườn phải, cánh tay phải, cả hai phải đi điều trị tại Bệnh viện Đ3. Anh Dương Quang H3 bị xây xát nhẹ ở tay và chân phải, anh H3 không đi điều trị ở cơ sở y tế nào.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 06/02/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã quyết định:

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 101 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thế A 01(một) năm 06(sáu) tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A1 01(một) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16 và ngày 19 tháng 02 năm 2024, bị cáo Bùi Thế A và bị cáo Nguyễn Quốc A1 kháng cáo xin hưởng án treo, giao nộp đơn đề nghị xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc A1: bà Đỗ Minh Á - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H đề nghị: Giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên phạt các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 mỗi bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, có xác nhận của chính quyền địa phương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Các bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đều là người chưa thanh niên khi phạm tội, vai trò thứ yếu nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin cải tạo tại địa phương của các bị cáo. Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin cải tạo tại địa phương của các bị cáo Bùi Thế A, Nguyễn Quốc A1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thế A, Nguyễn Quốc A1 đều nhận tội và khai báo thành khẩn. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ 23 giờ đến 23 giờ 30 phút ngày 16/6/2023, trên đường N thuộc địa phận thành phố H, tỉnh Hưng Yên, nhóm thanh niên gồm có Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2004 (Cường N), Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2000 (Cường Quang), Đào L, Nguyễn Đức V, Vũ Đức V1, Bùi Thế A, Nguyễn Quốc A1, Dương Việt A2 sau khi bị các nhóm thanh niên lạ mặt có hành vi ném cát, gạch, vỏ chai bia, chửi và trêu mình. Các bị cáo đã gọi tập hợp nhau đi trên 04 xe mô tô, cầm theo hung khí là dao quắm, thanh đao đi với tốc độ cao, rú ga, lạng lách đánh võng, bấm còi đuổi đánh các nhóm thanh niên ném cát, gạch, vỏ chai bia, trêu mình, gây cản trở giao thông, làm nguy hiểm đối với những người tham gia giao thông và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bởi hành vi nêu trên Bùi Thế A, Nguyễn Quốc A1 và 06 bị cáo khác bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Bùi Thế A, Nguyễn Quốc A1, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 mỗi bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tựu công cộng, điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo Nguyễn Quốc A1 còn giao nộp thêm huân, huy chương của ông nội, nên cả hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, đều giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin cải tạo tại địa phương của các bị cáo. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên là có căn cứ chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Bùi Thế A Nguyễn Quốc A1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

    Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt các bị cáo Bùi Thế A và Nguyễn Quốc A1 mỗi bị cáo 01(một) năm 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách mỗi bị cáo là 03(ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/4/2024.

    Giao bị cáo Bùi Thế A cho UBND xã N, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Nguyến Quốc A3 cho UBND xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ KTGĐ I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKSND, CA TP Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS TP Hưng Yên;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-PT ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 21/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thế A,Nguyễn Quốc A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger