|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21 /2024/HS-ST Ngày : 23 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Anh Tuấn.
2. Bà Nguyễn Thị Ngát
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hà
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27/3/1974 tại: huyện B, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu C, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: Khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kỹ sư địa chất; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ (bị cáo bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 10/4/2024); Bố đẻ: Lê Hữu Q; Sinh năm: 1942; Mẹ đẻ: Đặng Thị N; Sinh năm: 1941; Hiện bố mẹ trú tại: Khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm 1982; Con: có 2 con (lớn sinh năm: 2009, nhỏ sinh năm: 2012); Hiện vợ con trú tại: Khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh P. (Có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
1
Địa chỉ: Khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực trước cửa nhà ông Lê Hữu Q, thuộc khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - ma túy Công an thị xã P phát hiện, bắt quả tang bị cáo Lê Quang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra và thu giữ trong túi áo bên trái của bị cáo T có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa 09 gói giấy đều có mặt ngoài màu hồng, có in chữ và dòng kẻ, mặt trong có màu hồng, bên trong cả 09 gói giấy đều có chứa chất bột, cục màu trắng, bị cáo T khai nhận chất bột, cục màu trắng trên là ma túy Heroine, bị cáo T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L (Loại vỏ cứng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã cũ, số IMEI: 865652056999297, có gắn 02 thẻ sim sim số: 0978637204, 0374822035; Tiền Ngân hàng N1 2.300.000 đồng. Tổ công tác đã niêm phong 09 gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng thu của bị cáo T vào một bì giấy số 01dán kín, có chữ ký của các thành phần liên quan theo quy định để phục vụ công tác giám định.
Cùng ngày 05/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo T tại khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ tài sản gì.
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 09 gói giấy thu giữ của bị cáo T. Tại bản kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon gửi đến giám định là ma tuý; có khối lượng là: 1,211 gam; loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. H2 lại đối tượng giám định:0,950 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.”
Tại cơ quan điều tra, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Do nghiện ma tuý nên khoảng giữa tháng 12 năm 2023, bị cáo đã bắt xe khách từ K đường C - Lào Cai lên huyện T, tỉnh Lai Châu với mục đích tìm mua ma túy H3 về sử dụng cho bản thân. Khi lên đến nơi bị cáo đi lang thang thì gặp một người đàn ông không biết tên và địa chỉ của người này, Qua nói chuyện bị cáo biết người đàn ông này cũng nghiện ma túy và biết chỗ mua được ma túy nên đã hỏi mua 1.800.000 đồng, người đàn ông đó đồng ý rồi cầm tiền bị cáo đưa sau đó đi khoảng 15 phút sau thì quay lại và đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu xanh được buộc lại, bị cáo thấy bên trong có chất bột cục màu trắng là ma túy Heroine nên cầm và cất vào trong người. Sau khi mua được ma túy bị cáo bắt xe khách đi về, khi về đến nhà bị cáo chia số ma túy mua được ra thành 12 gói, có đặc điểm giống nhau là đều được gói bằng giấy có mặt ngoài màu hồng, có in chữ và dòng kẻ, mặt trong của các gói giấy đều có màu hồng rồi bị cáo để số ma tuý đó vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long loại vỏ cứng rồi cất trên người để sử dụng dần, bị cáo đã sử dụng hết 03 gói ma tuý Heroine cho bản thân, số ma túy còn lại bị cáo cất ở trên người chưa kịp sử dụng thì bị Công an thị xã P thu giữ khi bắt quả tang.
Đối với người đàn ông ở huyện T, tỉnh Lai Châu bán ma tuý cho bị cáo T; tuy nhiên bị cáo T không biết tên tuổi địa chỉ người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P không đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý được.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với bị cáo T, kết quả bị cáo T dương tính với ma túy Heroine, ngày 27/01/2024, Cơ quan công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hình thức phạt tiền: mức phạt 1.500.000 đồng là phù hợp.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ, kết quả điều tra xác định:
Đối với 01 (một) túi giấy niêm phong số 38/KL - KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định; 01(một) vỏ bao thuốc lá T1 (Loại vỏ cứng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã cũ, số IMEI: 865652056999297, có gắn 02 thẻ sim sim số: 0978637204, 0374822035 không liên quan đến hành vi phạm tội là tài sản hợp pháp của T; số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của T là tiền do T lao động mà có được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về điều kiện kinh tế: Kết quả điều tra xác định bị cáo Lê Quang T hiện cùng vợ và hai con ở cùng bố mẹ đẻ, tài sản riêng không có ngoài đồ dùng sinh hoạt cho bản thân.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai và thừa nhận: Tại bản cáo trạng số 25 ngày 12/4/2024 của VKSND Thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo như vậy là đúng. Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 1,211 gam loại Heroine để tàng trữ cho bản thân thì bị Cơ quan Công an thị xã P kiểm tra phát hiện như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-TXPT ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Quang T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị HĐXX Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Quang T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS, khoản 2, điểm b, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu để tiêu huỷ: 01 bì niêm phong số 38/KL - KTHS bên trong có chứa 0,950 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định, 01(một) vỏ bao thuốc lá T1 (Loại vỏ cứng) đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của T;
Trả lại cho Lê Quang T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã cũ, số IMEI: 865652056999297, có gắn 02 thẻ sim sim số: 0978637204, 0374822035 và số tiền 2.300.000 đồng.
-Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 05/01/2024, tại khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Lê Quang T có hành vi tàng trữ 1,211 gam Heroine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã P phát hiện, thu giữ.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 - Bộ luật Hình sự quy định:
”1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a).....
c) Heroine, C, M ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
”
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bố mẹ đẻ bị cáo là người đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được chủ tịch Nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm.
5
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo T, do bị cáo T không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu, nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để tổ chức xác minh làm rõ và xử lý là phù hợp.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Lê Quang T, kết quả T dương tính với ma túy Heroine, ngày 27/01/2024, Cơ quan công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hình thức phạt tiền: mức phạt 1.500.000 đồng là phù hợp.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo sống cùng vợ và hai con ở cùng bố mẹ đẻ, tài sản riêng không có ngoài đồ dùng sinh hoạt cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ:
Đối với 01 (một) túi giấy niêm phong số 38/KL - KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định; 01(một) vỏ bao thuốc lá T1 (Loại vỏ cứng) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã cũ, số IMEI: 865652056999297, có gắn 02 thẻ sim sim số: 0978637204, 0374822035 là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do bị cáo T lao động mà có cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Quang T 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/01/2024
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS, khoản 2, điểm b, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) túi giấy niêm phong số 38/KL - KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định; 01(một) vỏ bao thuốc lá T1 (Loại vỏ cứng).
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã cũ, số IMEI: 865652056999297, có gắn 02 thẻ sim sim số: 0978637204, 0374822035 và số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 12/4/2024).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Quang T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Hà |
7
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
