Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-5-2024

V/v: Xin ly hôn Linh – Việt

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và ông Phan Văn Tiến

Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc xin ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24C/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08B/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • (Chị Linh có đơn xin vắng mặt, anh Việt vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/01/2024, bản tự khai, các đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/4/2023. Sau khi kết hôn chị L và anh V cùng chung sống hạnh phúc ở Hà Nội đến khoảng tháng 09 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L là do tính cách không hòa hợp về tư tưởng cũng như cách sống; vợ chồng thường thường xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ nhau. Mâu thuẫn trở lên trầm trọng từ đầu tháng 12 năm 2023 dẫn đến vợ chồng sống ly thân, chị L đã chuyển về nhà bố mẹ sinh sống còn anh V vẫn sinh sống tại xã T. Từ lúc ly thân đến nay vợ chồng không quan tâm, liên lạc với nhau. Đến nay, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị L làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị và anh V không có con chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày anh chị không có nợ chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V đã đến Toà án làm việc nhưng không ký văn bản, sau đó Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn V nhiều lần, tuy nhiên anh V không đến Tòa án làm việc.

Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng cho anh V ở gia đình tại thôn K, xã T huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, anh V đã biết được nội dung của những văn bản của Tòa án nhưng không có ý kiến trình bày. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại biên bản xác minh ngày 18/4/2024, Ủy ban nhân dân xã và Công an xã T, huyện Thái Thụy cùng đại diện cơ sở thôn cung cấp như sau:

Anh Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/8/1988 có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, số căn cước công dân là 0343088007544 do Công an tỉnh Thái Bình cấp ngày 18/9/2021 là công dân có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã T được xác định là bị đơn trong vụ án xin ly hôn với chị Nguyễn Ngọc L mà Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đang thụ lý giải quyết. Chị L và anh V có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, chị L và anh V chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được, cơ sở thôn đã hòa giải để hàn gắn hôn nhân nhưng không có kết quả. Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã T về việc chị L xin ly hôn anh V là đề nghị Tòa án hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ, còn trong trường hợp mâu thuẫn đã quá trầm trọng vì các bên đương sự đã sống ly thân quá lâu và chị L kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng chị L và anh V không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Hiện nay không có thông tin phản ánh tại địa phương về việc chị L và anh V có vay nợ tổ chức, cá nhân nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh V mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ, biết việc chị L xin ly hôn anh; được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng anh không trình bày ý kiến, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố dụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Nguyễn Ngọc L được ly hôn anh Nguyễn Văn V ; Về quan hệ con chung và tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cà căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, hiện nay anh Việt đang sinh sống thường xuyên tại địa phương, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Ngọc L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2023 ngày 28/4/2023. Tại thời điểm kết hôn, anh chị đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày do tính cách không hòa hợp về tư tưởng cũng như cách sống; vợ chồng thường thường xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ nhau, chị L cho rằng anh L đến Toà án làm việc nhưng không ký văn bản để gây khó khăn cho chị và mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, chị kiên quyết xin được ly hôn anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật cho anh V, anh V đã biết được việc chị L xin ly hôn anh nhưng anh không đưa ra quan điểm, nguyện vọng hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị L, từ chối ký văn bản Tòa án, sau đó không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm cũng như tìm các biện pháp để hòa giải vợ chồng thể hiện việc anh V không tha thiết với việc hàn gắn tình cảm gia đình. Qua xác minh tại địa phương nơi chị L và anh V cùng sinh sống trước khi ly thân xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên là có thật, có tình trạng vợ chồng đánh cãi nhau và ly thân từ năm 2023. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Linh và anh Việt đã ở mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L để vợ chồng đoàn tụ cũng không thành và sẽ làm cho mâu thuẫn thêm trầm trọng, chị L cương quyết xin ly hôn, cần xử cho chị L được ly hôn anh V là phù hợp với thực tế và quy định tại khoản 1 điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
  4. [4] Về quan hệ con chung: Chị L và anh V không có con chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. [5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh V không có nợ chung, chị L không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.
  6. [6] Về án phí: Chị L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị L và anh V có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc L được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
  2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị L đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004069 ngày 15/012024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, nghĩa vụ nộp án phí của chị L đã thực hiện xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã T;
  • - Lưu HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Xuân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về xin ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger