|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 23/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Tại điểm cầu Trung tâm, Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Minh Tặng
Ông: Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Bá Thi–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần, Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình gồm:
- Đại diện Cảnh sát Hỗ trợ tư pháp bảo vệ phiên tòa: ông Đinh Trọng H – Cán bộ Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Trần Đức V, tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/02/1993 tại xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không tôn giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Trần Văn T, sinh năm 1966; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Anh chị em ruột: gồm 03 người, V là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thu H1; Con: gồm 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 06/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M từ ngày 06/01/2024 cho đến nay có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH T1; Địa chỉ: Tổ K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn C, chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Tổ K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/12/2023, Trần Đức V, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 15C-15616 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15R-14156 của công ty hàng dệt may từ Cửa khẩu quốc tế H2, tỉnh Lạng Sơn xuất cảnh sang Lào để trả hàng cho Công ty. Sau khi trả hàng xong V ở lại Lào và nhận vận chuyển than về lại Việt Nam. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, trong lúc dừng xe nghỉ tại bãi xả hàng than thuộc khu vực SaVẳnNaKhẹt - Lào để hàng. Trần Đức V gặp một người đàn ông người Lào, không rõ lai lịch V hỏi mua được 10 viên ma túy, loại hồng phiến được gói trong 01 túi nilon với số tiền 50.000 Kíp tiền Lào. Sau khi mua được ma túy, V đã sử dụng 01 viên, còn lại 09 viên trong túi nilon V đem cất giấu vào ly nhựa và để trên mặt bảng taplo phía trước bên phải cần số trên cabin của xe. Đến khoảng 08 giờ ngày 31/12/2023, Trần Đức V điều khiển phương tiện trên nhập cảnh về Việt Nam qua cửa khẩu Quốc tế C1. Sau khi làm xong thủ tục nhập cảnh đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày V điều khiển phương tiện đi vào khu vực kiểm soát cửa khẩu Quốc tế C1 thì bị lực lượng Bộ C1 phát hiện, bắt quả tang lập biên bản và thu giữ 09 viên ma túy cùng với phương tiện liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
Mẫu kí hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,871 gam (không phẩy tám trăm bảy mươi mốt gam).
Vật chứng vụ án gồm:
- Số ma túy sau giám định, được niêm phong bằng một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung: “60/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
- Một căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đức V.
- Một hộ chiếu số E00945682 mang tên Trần Đức V.
- Một điện thoại di động hiệu IPHONE màu tím, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong, số IMEI 1: 350636271770759; số IMEI 2: 350636271745496.
- Một điện thoại di động hiệu REDMI màu bạc, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong; số IMEI 1: 862854060075584/00; số IMEI 2: 862854060075592/00,
- Một giấy phép lái xe số [...] mang tên Trần Đức V.
- Một giấy phép liên vận số HP23.0635 đối với đầu kéo biển kiểm soát: 15C-15616.
- Một giấy phép liên vận số HP23.0636 đối với rơ móc biển kiểm soát: 15R-14156.
- Một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 071550 đối với đầu kéo biển kiểm soát 15C-15616.
- Một giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 005684 đối với rơ moóc biển kiểm soát 15R-14156. 11/01 (một) xe đầu kéo biển kiểm soát 15C-15616 kéo rơ moóc biển kiểm soát 15R-14156.
Xử lý vật chứng:
Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 23/QĐ-ĐCHS-KTMT, trả các vật chứng từ mục (7 - 10) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ngô Văn C - Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T1, địa chỉ tại tổ K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng.
Đối với các vật chứng từ mục (1 - 6) hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo quy định của pháp luật.
Về phần dân sự:
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T1 ông Ngô Văn C sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Cáo trạng số 20/CT-VKSMH ngày 09/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Trần Đức V về tội “Tàng trư trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Đức V từ 12 tháng đến 18 tháng tù và xử lý vật chứng.
Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Hành vi của bị cáo: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại luồng nhập cảnh cửa khẩu Quốc tế C1 thuộc xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Bị cáo Trần Đức V đã có hành vi tàng trữ trái phép 09 viên ma túy, có tổng khối lượng là 0,871 gam (không phẩy tám trăm bảy mươi mốt gam), loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang và lập biên bản.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức V đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã thấy được lỗi lầm của mình nên Hội đồng sẽ
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước.
- Về phần dân sự: Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T1, ông Ngô Văn C sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định, được niêm phong bằng một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung: “60/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
Trả lại cho bị cáo Trần Đức V các vật chứng sau là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án: Một căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đức V; Một hộ chiếu số E00945682 mang tên Trần Đức V; Một điện thoại di động hiệu IPHONE màu tím, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong, số IMEI 1: 350636271770759; số IMEI 2: 350636271745496; Một điện thoại di động hiệu REDMI màu bạc, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong; số IMEI 1: 862854060075584/00; số IMEI 2: 862854060075592/00; Một giấy phép lái xe số [...] mang tên Trần Đức V.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
- Về án phí: Bị cáo Trần Đức V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Đức V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đức V 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 31/12/2023).
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định, được niêm phong bằng một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung: “60/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
Trả lại cho bị cáo Trần Đức V các vật chứng sau: Một căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đức V; Một hộ chiếu số E00945682 mang tên Trần Đức V; Một điện thoại di động hiệu IPHONE màu tím, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong, số IMEI 1: 350636271770759; số IMEI 2: 350636271745496; Một điện thoại di động hiệu REDMI màu bạc, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong; số IMEI 1: 862854060075584/00; số IMEI 2: 862854060075592/00; Một giấy phép lái xe số [...] mang tên Trần Đức V.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Đức V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/5/2024) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản tại tại trự sở UBND xa nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham tọi tang tru ma tuy
