Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến;

2. Bà Ma Khánh Ly.

Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn C, sinh ngày 10/5/1989, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; bố đẻ: Phạm Văn V, sinh năm 1947, mẹ đẻ: Nguyễn Thanh G, sinh năm 1956; vợ Hoàng Thị M (đã ly hôn; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

  • * Tiền sự, tiền án: Không.
  • * Nhân thân: Ngày 02/5/2018, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ mang theo dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/01/2024, Phạm Văn C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn số thuê bao 0362886457 gọi đến số thuê bao 0988821541 của Bùi Văn Q, để rủ Q đến nhà C cùng sử dụng chất ma túy, Q đồng ý. Sau đó C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển số 23D1-121.59 của ông Bùi Mạnh H, trú tại tổ V, thị trấn V (mà C đã mượn trước đó) đi đến thị trấn V, huyện C tìm mua chất ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực đầu cầu C (thuộc tổ dân phố V, thị trấn V) C mua được 01 viên ma túy màu hồng cùng chất tinh thể màu trắng đều là chất ma túy loại Methamphetamine được chứa trong 01 ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, với số tiền 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Mua được chất ma túy, C đến đón Q ở quán I đi về nhà C.

Khi về đến nhà, C và Q đi vào trong phòng ngủ của C, sau đó C đưa ống nhựa bên trong có chứa chất ma túy vừa mua được cho Q để Q đổ toàn bộ chất tinh thể màu trắng vào cóong thủy tinh có gắn với bình nhựa bên trong chứa nước lọc mà C đã chuẩn bị trước; còn 01 viên ma túy hình tròn màu hồng, Q cho vào 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khóa, sau đó cất đút vào túi quần đang mặc mục đích để sử dụng. Tiếp đó C và Q cùng sử dụng chất ma túy bằng cách dùng bật lửa đốt vào cóong để hít vào cơ thể. Khi Q và C đang sử dụng chất ma túy thì tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đến kiểm tra. Quá trình làm việc, Q khai nhận được C cho sử dụng chất ma túy cùng và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi ni lông bên trong có chứa 01 viên ma túy hình tròn, màu hồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn C về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (lúc này là 21 giờ cùng ngày) đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng. Cùng ngày tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Phạm Văn C, Bùi Văn Q. Kết quả dương tính, đều có chất ma túy trong cơ thể.

Tại Bản kết luận giám định số: 214/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - Số chất màu vàng có trong 01 ống thủy tinh gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,067g (không phẩy không sáu bảy gam).
  • - 01 viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,095g (không phẩy không chín năm gam).

Cáo trạng số 20/CT-VKSCH, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

2

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.
  • Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Văn C, Bùi Văn Q, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi “bao gói và dụng cụ sử dụng ma túy trong vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo QĐTC số 45/QĐCSKTMT của Công an huyện C- T.Q”; 01 bật lửa gas nhãn hiệu HOA VIỆT; 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu CROMA; 01 ống kim loại kích thước (4,3 x 0,2) cm; 01 ống nhựa màu trắng một đầu được bịt kín có kích thước (1,5 x 0,5) cm; 01 ống nhựa màu trắng một đầu bịt kín, một đầu cắt vát có kích thước (3,5 x 0,5) cm; 01 lọ nhựa màu trắng hình con gấu mặt đáy rộng 7cm, chiều cao 15cm, nắp màu đen; 01 ống nhựa màu trắng kích thước (36,5 x 0,5) cm; 01 thẻ sim số: 0362886457, số seri sim: 89840.48000.93041.6317 (thẻ sim thu của Phạm Văn C).
  • + Tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 869945069731095; số IMEI 2: 869945069731087, điện thoại cũ đã qua sử dụng (điện thoại thu của Phạm Văn C).
  • + Trả lại cho anh Bùi Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 865194053576356; số IMEI 2: 865194053576349, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 thẻ sim số: 0988821541, số seri sim: 89840.48000.33676.0099.
  • - Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 20/01/2024, tại nhà ở của mình tại thôn T, xã T, huyện C, bị cáo Phạm Văn C đã có hành vi cung cấp chất ma túy (loại Methamphetamine), chuẩn bị các dụng cụ gồm (ống hút, bật lửa ga) cho Bùi Văn Q, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang cùng sử dụng chất ma tuý bằng cách đốt hít vào cơ thể.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính chất nghiêm trọng của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là việc lôi kéo, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng ma túy. Qua đó đã thể hiện rõ ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 02/5/2018, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ mang theo dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ của bị cáo đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng, biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Văn C, Bùi Văn Q, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi “bao gói và dụng cụ sử dụng ma túy trong vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo QĐTC số 45/QĐCSKTMT của Công an huyện C – T.Q”, là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bật lửa gas nhãn hiệu HOA VIỆT; 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu CROMA; 01 ống kim loại kích thước (4,3 x 0,2)cm; 01 ống nhựa màu trắng một đầu được bịt kín có kích thước (1,5 x 0,5)cm; 01 ống nhựa màu trắng một đầu bịt kín, một đầu cắt vát có kích thước (3,5 x 0,5)cm; 01 lọ nhựa màu trắng hình con gấu mặt đáy rộng 7cm, chiều cao 15cm, nắp màu đen; 01 ống nhựa màu trắng kích thước (36,5 x 0,5)cm, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại của bị cáo C là công cụ, phương tiện để sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với thẻ sim điện thoại thu giữ của bị cáo C, bị cáo C đề nghị tiêu huỷ, nên tịch thu tiêu huỷ thẻ sim điện thoại của bị cáo C.

Đối với 01 chiếc điện thoại và thẻ sim điện thoại của anh Bùi Văn Q không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho anh Q.

[6]. Các nội dung khác:

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,095 gam chất ma tuý loại Methamphetamine của Phạm Văn C và Bùi Văn Q, do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. Riêng đối với số chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,067 gam thu giữ trong Coóng thủy tinh do C và Q chưa sử dụng hết thì bị phát hiện thu giữ nên không cộng cùng với khối lượng 0,095 gam chất ma túy loại Methamphetamine để quy kết trách nhiệm đối với C và Q.

5

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn C và Bùi Văn Q, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn C tại tổ V, thị trấn V, huyện C, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với ông Bùi Mạnh H, không biết Phạm Văn C sử dụng xe mô tô của mình vào việc mua ma tuý, nên không đề cập giải quyết.

[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2024.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Văn C, Bùi Văn Q, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi “bao gói và dụng cụ sử dụng ma túy trong vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo QĐTC số 45/QĐCSKTMT của Công an huyện C- T.Q”;
  • + 01 bật lửa gas nhãn hiệu HOA VIỆT;
  • + 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu CROMA;
  • + 01 ống kim loại kích thước (4,3 x 0,2) cm;
  • + 01 ống nhựa màu trắng một đầu được bịt kín có kích thước (1,5 x 0,5) cm;
  • + 01 ống nhựa màu trắng một đầu bịt kín, một đầu cắt vát có kích thước (3,5 x 0,5) cm;
  • + 01 lọ nhựa màu trắng hình con gấu mặt đáy rộng 7cm, chiều cao 15cm, nắp màu đen.
  • + 01 ống nhựa màu trắng kích thước (36,5 x 0,5) cm;

6

  • + 01 thẻ sim số: 0362886457, số seri sim: 89840.48000.93041.6317 (thẻ sim thu của Phạm Văn C);

Tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 869945069731095; số IMEI 2: 869945069731087, điện thoại cũ đã qua sử dụng (điện thoại thu của Phạm Văn C).

Trả lại cho anh Bùi Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 865194053576356; số IMEI 2: 865194053576349, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 thẻ sim số: 0988821541, số seri sim: 89840.48000.33676.0099.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, lập ngày 03/5/2024.

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mạnh Tuấn

7

  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Lưu HS.

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger