Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày: 23/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Chu Ngọc Trọng
  • Ông Nguyễn Viết Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy – Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2023/TLST-HS ngày 21/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu V, sinh năm 1994; HKTT và nơi cư trú: TDP L, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Hữu S ; Con bà: Cao Thị H; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ : Nguyễn Thị N, sinh năm: 1994 ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1989. “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn A xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc đối tượng Nguyễn Hữu V ở tổ dân phố L, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa cho vay lãi nặng. Tiến hành triệu tập làm việc, Nguyễn Hữu V xin đầu thú, khai nhận hành vi cho vay lãi nặng và giao nộp chiếc điện thoại iphone XS Max gắn sim số 0357.986.999. Khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi làm việc của Nguyễn Hữu V tại tổ dân phố L, phường B không thu giữ gì.

Quá trình điều tra, xác định:

Từ năm 2019, Nguyễn Hữu V vay vốn tại Ngân hàng TMCP C (V1) chi nhánh S2 để kinh doanh dịch vụ cầm đồ "Anh V" tại nhà ở. Từ tháng 12/2021 đến cuối năm 2022, do nhiều người có nhu cầu vay không có thế chấp tài sản nên V đã cho vay để tính lãi xuất cao. Vượn cho vay bằng hình thức viết giấy vay tính lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày, không ghi lãi suất vào giấy vay, cho vay cắt lãi trước và yêu cầu người vay trả lãi hàng tháng bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền qua tài khoản số [...] ngân hàng V1 và số tài khoản 0357986999 ngân hàng M. Cụ thể:

Ngày 06/4/2022, Phạm Văn T ở thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vay 100.000.000 đồng, V đồng ý, thỏa thuận tiền lãi 9.000.000đồng/tháng, tương đương 3.000đồng/triệu/ngày, tương ứng 109,50%/năm, Vượn cắt lãi trước một tháng 9.000.000 đồng, yêu cầu T để lại căn cước công dân và viết giấy vay [...] đồng. Phạm Văn T đã trả 05 tháng tiền lãi kế tiếp với số tiền 45.000.000 đồng. Đến tháng 9/2022 V và T thống nhất không tính lãi tiếp, chỉ trả tiền gốc. Tiền lãi theo quy định 20%/năm là 8.219.178 đồng, Nguyễn Hữu V thu lời bất chính là 36.780.822 đồng. Hiện Phạm Văn T chưa trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng.

Căn cứ Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N2, quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng. Nguyễn Hữu V cho Phạm Văn T vay 100.000.000 đồng, lãi xuất 3.000₫/1.000.000đ/ngày, tương đương lãi suất 109.5%/năm cao gấp từ 5,48 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu lời bất chính 36.780.822 đồng.

Ngoài ra, ngày 28/12/2021, V còn cho Vũ Viết L ở tổ dân phố S, phường T, thành phố S vay 20.000.000 đồng, thỏa thuận lãi 1.800.000 đồng/tháng, tương đương 3.000đồng/triệu/ngày, tương ứng 109,50%/năm, L trả được 02 tháng tiền lãi với số tiền 3.600.000 đồng. Ngày 28/2/2022, L vay Vượn thêm 10.000.000 đồng gộp chung với khoản vay trước thành khoản vay 30.000.000 đồng để tính chung tiền lãi và ngày trả lãi. L trả 01 tháng tiền lãi là 2.700.000 đồng. Cuối tháng 3 năm 2022, L vay tiếp 70.000.000 đồng, gộp chung với hai khoản vay trước thành khoản vay 100.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi 9.000.000 đồng/tháng, L trả được 02 tháng tiền lãi là 18.000.000 đồng. Đến ngày 28/5/2022, V và L thỏa thuận không tính lãi tiếp, chỉ trả tiền gốc. Vũ Viết L đã trả xong tiền gốc cho V vào ngày 17/8/2022. Tổng số tiền lãi Vượn thu là 24.300.000 đồng, tiền lãi theo quy định là 4.438.356 đồng, V thu lời bất chính 19.861.644 đồng. Tuy nhiên số tiền thu lời bất chính của lần vay này dưới 30 triệu đồng và hành vi cho vay trên đã kết thúc trước ngày 05/1/2023 (thời gian 01 năm so với ngày phát hiện tội phạm là ngày 05/1/2024). Do đó hành vi vi phạm này đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không có căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính và xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo V.

Về vật chứng: 01 điện thoại iphone XS Max gắn sim số 0357.986.999 hiện đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự TP Sầm Sơn chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T không yêu cầu bị cáo V phải trả lại cho anh số tiền đã thu lời bất chính vượt quá quy định của pháp luật .

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTPTH ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 201; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 3 Điều 35 BLHS phạt tiền bị cáo S1 từ 60.000.000₫ đến 70.000.000đ; Phần dân sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bố số tiền là phương tiện phạm tội: số tiền gốc dùng để cho vay là 100.000.000 đồng (tịch thu của anh T) và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất 20% theo quy định của BLDS là 8.219.178 đồng của bị cáo V; Công nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền thu lời bất chính là 36.780.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng bị cáo đều thể hiện việc ăn năn hối hận do không hiểu biết pháp luật mà phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 04/2022 đến tháng 9/2022 Nguyễn Hữu V đã sử dụng số tiền 100.000.000 đồng cho anh T với mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,48 lần so với mức lãi suất quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS, thu lời bất chính 36.780.222 đồng. Như vậy, Nguyễn Hữu V phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền thu lời bất chính là 36.780.222 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu V đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và trật tự kinh tế. Do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để làm bài học giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung là cần thiết.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã đầu thú, bố mẹ vợ bị cáo có công với cách mạng. Do đó bị cáo Nguyễn Hữu V được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nhân thân không có tiền án, tiền sự, phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền thu lời bất chính không lớn nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đủ để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung : Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[6] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao:

Đối với số tiền gốc 100.000.000 đồng anh T vay của bị cáo Nguyễn Hữu V đến nay vẫn chưa trả, xét thấy đây là số tiền của bị cáo V dùng vào việc phạm tội nên truy thu của anh T để nộp ngân sách nhà nước.

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Hữu V toàn bộ số tiền lãi 8.219.178 đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự là do bị cáo đã thu của người vay (số tiền do phạm tội mà có).

Công nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã thu lời bất chính là 36. 780.822 đồng.

[7] Về vậy chứng: Vật chứng là 01 chiếc điện thoại XS Max gắn thẻ sim là phương tiện phạm tội nên căn cứ vào Điều 47, khoản 1,2 Điều 106 tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 1, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 ; Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Hữu V 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Các biện pháp tư pháp:

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Hữu V số tiền lãi 8.219.178 đ (tám triệu hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy tám đồng) tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS.

Công nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn T không yêu cầu bị cáo V phải trả lại số tiền thu lời bất chính là 36. 780.822 đồng.

Truy thu để tịch thu số tiền nợ gốc để nộp vào Ngân sách nhà nước của người vay anh Phạm Văn T đến nay chưa trả là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).

Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại XS Max gắn thẻ sim không xác định số. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28/BBVC-CCTHA ngày 20/3/2024

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND Thành phố Sầm Sơn;
  • - Công an Thành phố S;
  • - Thi hành án HS, D;
  • - Bị cáo; Người liên quan.
  • - UBND P.B, TP S
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị L1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 201 BLHS xử phạt Nguyễn Hữu Vượn 60 triệu đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger