Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 21/2024/DS-ST

Ngày: 23-4-2024

V/v tranh chấp: “Đòi tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tám.

2. Ông Trần Văn Tám.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 348/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 02/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Văn V, sinh năm 22/7/1971; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1977; (có mặt)

Địa chỉ: Số A P, Phường E, TP ., tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1953; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1977; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn ông Võ Văn V, có người đại diện theo ủy quyền – chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Từ ngày 24/02/2016 đến ngày 27/02/2016 AL, anh V đã nhiều lần bán thức ăn cho bà Lê Thị N với tổng số tiền là 82.438.000 đồng, mỗi lần mua thức ăn thì bà N đều ký tên vào sổ để xác nhận có nợ tiền mua thức ăn của anh V.

Từ đầu tháng 3/2016, anh V có yêu cầu bà N trả tiền thức ăn cho mình. Sau đó bà N thanh toán cho anh V được số tiền 50.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 32.438.000 đồng thì bà N không trả nữa. Anh V đã nhiều lần yêu cầu bà N trả cho anh V số tiền 32.438.000 đồng nhưng bà N hứa hẹn kéo để kéo dài thời gian mà không trả tiền cho anh V nên hai bên phát sinh tranh chấp.

Nay, anh V yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Lê Thị N phải trả cho ông Võ Văn V số tiền 32.438.000 đồng, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

*Bị đơn bà Lê Thị N, có người đại diện theo ủy quyền - chị Nguyễn Thị D có bản tự khai trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn V thì bà N không đồng ý vì bà N đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho anh V, hiện nay bà N không còn nợ anh V nữa.

*Tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự trình bày, tranh luận:

- Người đại diện của nguyên đơn trình bày: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Võ Văn V xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu với số tiền 5.000.000 đồng theo biên nhận bị đơn cung cấp ghi ngày 15/8/2020 AL và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị N phải trả cho ông Võ Văn V số tiền còn nợ 27.438.000 đồng, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Bà Lê Thị N không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của anh V vì bà N đã trả toàn bộ số nợ cho anh V xong. Bị đơn cung cấp tài liệu chứng cứ gồm 01 cuốn sổ ghi nội dung giao dịch mua thức ăn giữa nguyên đơn và bị đơn và 01 biên nhận với số tiền 5.000.000 đồng do Võ Nguyễn Thúy V1 ký nhận ngày 15/8/2020 AL, tại phiên tòa bị đơn khẳng định đã trả hết nợ, nên không đồng ý trả nợ cho nguyên đơn như yêu cầu.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và lời khai của anh Võ Văn V về việc yêu cầu bà Lê Thị N trả số tiền là 27.483.000 đồng theo số nợ tiền mua thức ăn, đây là quan hệ “Tranh chấp đòi tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 166, 466 của Bộ luật Dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị N là bị đơn trong vụ án có địa chỉ tại: ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn cho thấy, trong nhiều năm anh Võ Văn V cho bị đơn bà Lê Thị N mua thức ăn chăn nuôi và mượn tiền với tổng số tiền là 82.438.000 đồng. Bà N có ký tên vào sổ theo dõi nợ tiền mua thức ăn của anh V.

Đến tháng 3/2016, anh V yêu cầu bà N trả tiền nợ thức ăn của mình thì được bà N thanh toán số tiền 50.000.000 đồng, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận.

- Nên bị đơn còn nợ lại số tiền 32.438.000 đồng chưa trả cho nguyên đơn nhưng tại phiên tòa bị đơn cung cấp một biên nhận tiền do con của anh V là Võ Nguyễn Thúy V1 ký nhận ngày 15/8/2020 AL nên nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 5.000.000 đồng. Nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả cho nguyên đơn số tiền nợ còn lại là 27.438.000 đồng.

[3.2] Bị đơn cho rằng đã thực hiện trả hết nợ theo sổ theo dõi nợ mà bị đơn cung cấp, thể hiện bằng việc gạch ngang các khoản nợ, ngoài ra bị đơn không trình bày bổ sung cung cấp chứng cứ gì khác.

[4] Từ những chứng cứ và lời trình trước tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Theo sổ theo nợ mua bán (BL20) nguyên đơn cung cấp thể hiện:

  • - “Ngày 27/10/2014 gởi 10.000.000 còn = 43.688.000” bà N có ký xác nhận.
  • - “Ngày 18/4/2015 2b MB. 6b 651 = 3.390.000” bà N không ký xác nhận.
  • - “Ngày 24/2/2016 8b 651 = 3.080.000 = 3.090.000 bà N ký xác nhận.
  • - “Ngày 24/2/2016 chị 3 mượn V ‘Ba chục triệu = 30.000.000 bà N có ký xác nhận”
  • - “Ngày 27/2/2016 3b657, 2bMB, 3b651 = 2.280.000 bà N có ký xác nhận”

Tổng các khoản nợ thể hiện là 82.438.000 đồng.

- Phía dưới phần sổ theo dõi thể hiện (BL20):

  • - “Ngày 27/7/2015 gởi 30.000.000 (Ba chục triệu)
  • - “Ngày 23/9/2016 gửi 10.000.000 (Mười T)
  • - “Ngày 9/6/2017 gửi 10.000.000 Mười T, T”
  • - Nguyên đơn nhận 5.000.000 đồng ngày 15/8/2020 AL do Võ Nguyễn Thúy V1 (con của nguyên đơn) nhận.

Căn cứ vào sổ do nguyên đơn cung cấp thì số tiền nợ 82.438.000 đồng, số tiền nguyên đơn đã nhận của bị đơn là 55.000.000 đồng, so với sổ theo dõi của bị đơn và biên nhận bị đơn cung cấp là phù hợp.

[4.2] Đối với khoản tiền nợ 3.390.000 đồng thể hiện trong sổ của nguyên đơn, sổ bị đơn không thể hiện, bị đơn cũng không ký tên xác nhận, tại phiên tòa bị đơn cũng không thừa nhận, dù nguyên đơn cho rằng có tính liên tục, nhưng phần tổng số tiền nợ 82.438.000 đồng bị đơn không ký xác định. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ 3.390.000 đồng.

[5] Từ những phân tích nêu trên cho thấy số tiền của bị đơn nợ tổng cộng là 79.093.000 đồng là phù hợp với sổ theo dõi của nguyên đơn và bị đơn.

[5.1] Về số tiền nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn thể hiện gồm các khoản tại các thời điểm là 55.000.000 đồng là phù hợp (ngày 27/7/2015 gởi 30.000.000 đồng, ngày 23/9/2016 trả 10.000.000 đồng, 09/6/2017 trả 10.000.000 đồng, 15/8/2020 trả 5.000.000 đồng).

[5.2] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn mua thức ăn chăn nuôi của nguyên đơn và còn nợ tiền chưa trả với số tiền là 24.048.000 đồng, do bị đơn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên phải có nghĩa vụ trả tiếp số tiền nợ cho nguyên là phù hợp quy định của pháp luật.

[5.3] Bị đơn cho rằng đã trả hết số tiền nợ của nguyên đơn yêu cầu, nhưng không có tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ nợ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng xét thấy là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ phần yêu cầu này.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận được chấp nhận một phần, nên phần không được chấp nhận nguyên đơn phải chịu án phí đối với số tiền 3.390.000 đồng và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với phần được chấp nhận.

Bị đơn Lê Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn do bị đơn là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn V. Buộc bà Lê Thị N phải có nghĩa vụ trả cho anh Võ Văn V số tiền 24.048.000 đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm bốn mươi tám ngàn đồng). Thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • - Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 3.390.000 đồng.
    • - Đình chỉ xét một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn với số tiền nợ là 5.000.000 đồng

    Kể từ ngày anh Võ Văn V có đơn yêu cầu gửi cơ quan thi hành án, nếu bị đơn bà Lê Thị N chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu khanh có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  3. Anh Võ Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004525 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên hoàn lại cho anh V số tiền 511.000 đồng (Năm trăm mười một ngàn đồng).

    Bà Lê Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Anh Võ Văn V, bà Lê Thị N được quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy, TG;
  • - CCTHADS thị xã Cai Lậy, TG;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoàng Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 21/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Lê Thị N phải trả cho ông Võ Văn V số tiền 32.438.000 đồng, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger