|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phong
Các Hội thẩm nhân dân.
-
Ông Nguyễn Hùng Cường
-
Bà Nguyễn Thùy Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thụy Thùy Trâm, thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ, Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bé T, sinh năm 1988;
Nơi cư trú: Số F, đường số C, Tổ E, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Công T1, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2023, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Bùi Thị Bé T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2006 chị T và anh T1 sau thời gian tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, nhưng đến 2008 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 13/12/2008.
Sau khi chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau một thời gian khi chị T đi làm tại Công ty M thì anh T1 không cho và ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Từ đó anh T1 thường hay nhậu nhẹt, cờ bạc sống không có trách nhiệm với vợ con. Chị T nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 không thay đổi. Năm 2023 do mâu thuẫn trầm trọng nên anh T1 về quê sống bỏ chị T sống nhà thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh một mình với 02 con cho đến nay.
Nay, chị T xác định không còn tình cảm với anh T1, do đó chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Như Q, sinh ngày 16/6/2011 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 22/9/2014, hiện chị Bé T đang nuôi cháu Q và cháu Đ. Chị Bé T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn, chị B T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu Q và cháu Đ theo quy định pháp luật cho đến khi cháu Q và cháu Đ trưởng thành tự lao động, sinh sống được.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Công T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng anh T1 không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án. Sau đó Tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ đến Tòa để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/3/2024 và ngày 15/4/2024 nhưng cả hai lần anh T1 vẫn không có mặt tại Tòa, do đó Tòa án không ghi lời khai và không tiến hành hòa giải được. Để làm rõ ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến cho anh T1 nhưng vẫn không nhận được ý kiến phản hồi.
Phiên tòa ngày 03/5/2024 và hôm nay, anh T1 đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập theo quy định của pháp luật, nhưng anh T1 vắng mặt, không lí do.
Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T1. Anh T1 vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo đúng quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, tuy nhiên bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn anh T1. Về con chung: đề nghị giao 02 cháu Nguyễn Như Q, sinh ngày 16/6/2011 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 22/9/2014, cho chị B T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn và anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu Q và cháu Đ theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Bùi Thị Bé T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết việc hôn nhân của chị và anh T1. Bị đơn anh Nguyễn Công T1 có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên việc Tòa án nhân nhân huyện C thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Công T1 đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hõan phiên tòa và đã được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không lí do. Nguyên đơn, chị Bùi Thị Bé T đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 bộ Luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 chung sống có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 13/12/2008, được xác định là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.1 Xét yêu cầu của chị T về việc yêu cầu ly hôn anh T1, Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn xuất phát từ việc anh T1 không đồng ý cho chị T đi làm ở S may quần áo và hay ghen tuông. Từ đó anh T1 thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc không lo lao động phát triển kinh tế, không quan tâm vợ con. Chị T có khuyên nhiều lần và cho cơ hội sửa chữa nhưng anh T1 không sửa đổi. Quá trình Tòa án giải quyết anh T1 không có ý kiến gì với yêu cầu ly hôn của chị T. Mặt khác dù cả hai đã ly thân từ năm 2023 đến nay hơn một năm mà anh T1 lại không có động thái gì để hàn gắn tình cảm với chị T.
[2.2] Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Ly hôn theo yêu cầu của một bên:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.”
[2.3] Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía. Để có cuộc hôn nhân hạnh phúc cả hai phải có sự trân trọng, yêu thương, cảm thông, chia sẻ với nhau về những vấn đề trong cuộc sống. Thế nhưng, anh T1 không quan tâm, chia sẻ với chị T, chị T đã nhiều lần cho cơ hội nhưng anh không sửa đổi, từ đó làm rạn nứt tình cảm vợ chồng. Ngoài ra dù cả hai vợ chồng ly thân đã lâu nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn đoàn tụ. Xét thấy, hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc chị T kiện yêu cầu ly hôn với anh T1 là có căn cứ để chấp nhận.
Riêng, đối với anh T1 sau khi Toà án thụ lý vụ án anh không nộp lời khai cho Tòa án, khi Tòa án triệu tập anh T1 đến Tòa để tổ chức hòa giải, tạo điều kiện để vợ chồng về đoàn tụ thì anh cũng không đến Tòa để tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa hôm nay anh T1 vẫn không có mặt, thể hiện anh T1 không quan tâm đến kết quả xin ly hôn của chị T tại Tòa, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Nguyễn Công T1.
[3] Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Như Q, sinh ngày 16/6/2011 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 22/9/2014, hiện chị Bé T đang nuôi cháu Q và cháu Đ. Chị Bé T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu Q và cháu Đ theo quy định pháp luật. Do cháu Q và cháu Đ có văn bản ý kiến nguyện vọng được chung sống với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu Đ sau khi ly hôn. Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng để chị T nuôi con chung với mức mỗi cháu mỗi tháng là 1/2 mức lương cơ sở từ thời điểm án có hiệu lực cho đến khi cháu Q và cháu Đ lần lượt đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Do chị T trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
[5] Đối với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án: Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp quy định pháp luật, phù hợp các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật. Anh T1 chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a, khoản 5, điểm b, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
-
Về hôn nhân: Chấp nhận chị Bùi Thị Bé T ly hôn anh Nguyễn Công T1.
-
Về con chung: Giao Nguyễn Như Q, sinh ngày 16/6/2011 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 22/9/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh T1 phải cấp dưỡng để chị T nuôi con chung với mức mỗi cháu là 1/2 mức lương cơ sở mỗi tháng từ thời điểm án có hiệu lực cho đến khi cháu Q và cháu Đ lần lượt đủ 18 tuổi.
Anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
-
Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
-
Về án phí: Chị Bùi Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và anh T1 chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp ngày 01/3/2024 theo biên lai số 0002201 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được khấu trừ vào án phí. Như vậy chị T đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn (chị T) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn (anh T1) vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Minh P |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, NUÔI CON
