Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-PT

Ngày 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và ông Lưu Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Thu H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thị Thu H (tên gọi khác: không), sinh ngày 14 tháng 12 năm 1989 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Giáo viên tiểu học; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình D và bà Vũ Thị H1; chồng và con: Không; tiền án: Không, tiền sự: Không; căn cước công dân số [...] do Cục C cấp ngày 15/11/2022; bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Thu H: Ông Phạm Ngọc Q - Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 21/7/2023, Lê Thị Thu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, BKS: 81P1 – 204.20 đến nhà chị Lê Thị H2 tại Thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai tìm gặp anh Phạm Văn H3 để lấy số tiền mà anh H3 nợ. Khi H đến nhà chị H2 thì thấy anh H3 và chị H2 đang ở nhà. Lúc này, H cùng anh H3 ra ngoài cổng nói chuyện về việc trả số tiền mà anh H3 nợ. Trong khi H và H3 nói chuyện lớn tiếng thì H2 nói với H: “Ngon, thì lên đây giải quyết theo pháp luật, N thì mày ra đây”, dẫn đến cãi nhau giữa H và H2. Lúc này, H lấy 01 con dao có chiều dài khoảng 25cm, lưỡi và cán bằng kim loại,

mũi dao nhọn trên xe mô tô BKS: 81P1 – 204.20 chạy đến chỗ H2, còn H2 cúi xuống đống gạch nhặt mỗi tay cầm 01 hòn gạch loại 06 lỗ chạy đến chỗ H. Cả hai cùng lao vào nhau, khi H đứng cách H2 khoảng 0,4m cầm dao đâm trúng 01 cái vào cánh tay trái của H2 làm H2 buông hòn gạch cầm bên tay trái xuống sân, còn Hoa tay p cầm hòn gạch loại 06 lỗ đánh vào vùng đầu của H thì trúng mũ bảo hiểm trượt xuống trúng 01 cái vào vai trái của H, nhưng H không bị thương tích gì. Thấy H và H2 đánh nhau, H3 chạy đến ôm phía sau H để can ngăn, H cầm dao đâm về phía sau trúng 01 cái vào đùi phải của H3. Trong lúc giằng co, H cầm dao đâm 01 cái trúng bẹn trái của H2, H2 và H giằng co con dao nên con dao bị gãy cán. Sau đó anh H3 và chị H2 được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh G.

Ngày 21/7/2023, Lê Thị Thu H đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.

Ngày 11/9/2023, Phạm Văn H3 và Lê Thị H2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

* Tại Bản kết luận giám định số 439/KLTTCT- TTPY, ngày 28/8/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận mức độ tổn hại sức khỏe của Phạm Văn H3:

01 sẹo vết thương phần mềm hình vòng cung mặt trước 1/3 trên đùi phải: 2%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn H3 tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm).

* Tại Bản kết luận giám định số 440/KLTTCT- TTPY, ngày 28/8/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận mức độ tổn hại sức khỏe của Lê Thị H2:

01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái: 1%; 01 sẹo vết thương phần mềm giữa nếp lằn bẹn trái: 1%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H2 tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm).

* Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 05/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu H (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Lê Thị Thu H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của bị cáo theo quy định pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 30/01/2024 bị cáo Lê Thị Thu H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Bị cáo cung cấp biên lai đã thi hành xong phần án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về

hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất, đang trực tiếp nuôi mẹ già; giấy báo tử cha đã chết (trước khi xét xử sơ thẩm); các phiếu khám chữa bệnh mẹ bệnh tật đau yếu và 01 Văn bản của Trường tiểu học N1 xác nhận bị cáo là giáo viên luôn nhiệt huyết, sáng tạo trong phong trào thi đua dạy tốt học tốt, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền khen thưởng và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Lê Thị Thu H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa Bản án hình sự sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;, xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày:

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau phạm tội ra đầu thú đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại một phần để khắc phục hậu quả; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của người bị hại; Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; quá trình học tập công tác bị cáo đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước “Dạy tốt, học tốt” được Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện C; được Ban chấp hành Liên đoàn lao động huyện C quyết định tuyên dương trong phong trào thi đua và tặng giấy khen. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; Có đơn xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất; cha đã chết, nuôi mẹ bệnh tật đau yếu và được T tiểu học Nguyễn Công T1 có văn bản xác nhận bị cáo là giáo viên ở vùng sâu vùng xa, quá trình công tác có nhiều thành tích xuất sắc, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS chấp nhận kháng cáo cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu H trong hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm, nên được xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội bị cáo khai: Vào khoảng 21 giờ, ngày 21/7/2023, điều khiển xe mô tô đến nhà chị Lê Thị H2 tại Thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai tìm gặp anh Phạm Văn H3 để lấy số tiền anh H3 mắc nợ. Khi bị cáo đến nhà chị H2 thì thấy anh H3 và chị H2 đang ở nhà. Bị cáo cùng anh H3 ra ngoài

cổng nói chuyện về việc trả tiền thì H2 nói với H: “Ngon, thì lên đây giải quyết theo pháp luật, N thì mày ra đây”, dẫn đến cãi nhau. Bị cáo lấy 01 con dao trên xe mô tô chạy đến chỗ H2, còn H2 nhặt mỗi tay cầm 01 hòn gạch cùng lao vào nhau, bị cáo cầm dao đâm trúng 01 cái vào cánh tay trái của H2 làm H2 buông hòn gạch xuống sân, còn Hoa tay p cầm hòn gạch đánh vào vùng đầu của bị cáo trúng mũ bảo hiểm trượt xuống trúng vai. Thấy vậy H3 chạy đến ôm phía sau bị cáo để can ngăn, bị cáo cầm dao đâm về phía sau trúng 01 cái vào đùi phải của H3. Trong lúc giằng co, bị cáo cầm dao đâm 01 cái trúng bẹn trái của H2.

Theo kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G anh H3 và chị H2 mỗi người tổn hại sức khỏe 2%.

Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự với mức hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài lần phạm tội này, luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; sau phạm tội ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại một phần thiệt hại khắc phục hậu quả; hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát, không có chủ ý từ trước, nguyên nhân cũng do có một phần lỗi của bị hại. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp: Biên lai đã thi hành xong phần án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương và các tài liệu liên quan đến việc khám, chữa bệnh của mẹ bị cáo thể hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất, cha đã chết, đang trực tiếp nuôi mẹ già đau yếu, và 01 Văn bản của Trường tiểu học N1 xác nhận bị cáo là giáo viên ở vùng sâu vùng xa, quá trình công tác có nhiều thành tích xuất sắc được cấp có thẩm quyền khen thưởng và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Lê Thị Thu H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Thu H cho T Tiểu học Nguyễn Công T1, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định (tại Điều 68, 92) của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại 56 Bộ luật hình sự.

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm d, khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:

Bị cáo Lê Thị Thu H không phải phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - CQCSĐT huyện Chư Sê;
  • - VKSND huyện Chư Sê;
  • - TAND huyện Chư Sê;
  • - Chi cục THADS huyện Chư Sê;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Lưu VT, THS, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sinh

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 21/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu H phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger