TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 23/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Nhân.
- Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Như H, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 08/8/1980, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; số định danh cá nhân: 045180006907; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khánh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); chung sống không đăng ký kết hôn với Nguyễn Huỳnh H1; có 09 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Cháu Nguyễn Huỳnh P, sinh ngày 18/10/2011 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Huỳnh P (đã chết): Anh Nguyễn Huỳnh D, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; là anh ruột; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Huỳnh H1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Cháu Nguyễn Huỳnh T2, sinh ngày 04/11/2008; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Huỳnh T2:
- Anh Nguyễn Huỳnh D, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; là anh ruột; có mặt.
- Anh Nguyễn Huỳnh T3, sinh năm 2002; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; là anh ruột; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Huỳnh D1, sinh năm 2007; trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 17/9/2024, Nguyễn Thị Như H (không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 43R2-4008 (biển số đã bị thay đổi) chở 02 người con là cháu Nguyễn Huỳnh P và cháu Nguyễn Huỳnh T2 lưu thông trên đường Q hướng Huế - Quảng Trị. Khi đến đoạn Km 791A+30 m Quốc lộ A thuộc xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, thị xã P, thành phố H) là đoạn đường một chiều, được phân chia bằng dải phân cách cứng, hướng Huế - Quảng Trị có 02 làn đường, làn đường bên phải rộng 5,7 m, làn đường bên trái sát với dải phân cách rộng 3,5 m.
Lúc này, H điều khiển xe trên làn đường bên phải theo chiều đi của mình nhưng do buồn ngủ nên H đã không làm chủ được tay lái, để xe mô tô do mình điều khiển đi từ làn bên phải chạy sang làn đường bên trái rồi va vào dải phân cách bằng bê tông cứng giữa đường làm cho cháu Nguyễn Huỳnh T2 rơi khỏi xe văng qua phía đường ngược chiều hướng Quảng Trị - H còn cháu Nguyễn Huỳnh P và H rơi xuống sát với dải phân cách hướng Huế - Quảng Trị.
Hậu quả cháu P chết khi được cấp cứu tại Bệnh viện T4 (cơ sở 2) vào khoảng 05 giờ 00 ngày 17/9/2024; cháu T2 điều trị đến ngày 10/10/2024 thì xuất viện
Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Nơi xảy ra tai nạn là Km 791A+30 m Quốc lộ A thuộc đoạn đường một chiều hướng Huế - Quảng Trị; đường có hệ thống chiếu sáng ban đêm, tầm nhìn không bị che khuất; mặt đường thảm nhựa bằng phẳng rộng 9,2 m, ở giữa có vạch kẽ đứt quãng màu trắng chia đường thành 02 làn xe chạy, làn đường bên phải rộng 5,7 m, làn đường bên trái rộng 3,5 m, bên phải đường không có tường hộ lan, bên trái là dãy phân cách cố định bằng bê tông cao 0,7 m, phần đế rộng 0,5 m, phần đỉnh rộng 0,13m; phía trước nơi xảy ra tai nạn có cắm biển báo đi chậm.
Lấy cột đèn T1/21 trên dãy phân cách làm mốc, mép đường bên phải làm mép đường chuẩn, hướng Huế đi Quảng Trị làm hướng khám nghiệm.
Trên bề mặt bên phải của dãy phân cách bằng bê tông cách mốc cố định về hướng Quảng Trị 31,2 m và cách mép lề chuẩn 9,8 m là điểm đầu dấu vết cà xước; dấu vết này nằm ở phần thân dưới và đế dãy phân cách, điểm thấp nhất cách mặt đường 0,1 m, điểm cao nhất cách mặt đường 0,4 2m, có hướng trượt tịnh tiến theo chiều hướng khám nghiệm. Nằm song song với điểm này, phía trên đỉnh dãy phân cách có một dấu vết cà xước 2,1 m; rộng 0,02 m, chiều hướng trượt theo hướng khám nghiệm. Điểm cuối của vùng dấu vết cà xước bê tông này dừng lại ở tấm kim loại phát quang gắn cố định trên mặt bên phải của dãy phân cách; tấm kim loại này kích thước (0,04 x 0,08) m, cách mặt đường 0,56 m và cách điểm đầu dấu vết cà xước 7,3 m, trên bề mặt tấm kim loại phát quang có dấu vết bong tróc, trầy xước sơn (vị trí số 1).
Trên làn đường giáp với dãy phân cách có một vùng dấu vết gồm: chất lỏng dạng vũng máu nâu đỏ, dép, mũ bảo hiểm, ba lô kích thước (1,9 x3,5 ) m; điểm đầu vùng dấu vết này cách điểm cuối vị trí số 1 về hướng Quảng Trị 3,5 m, tâm vùng dấu vết cách mép lề chuẩn 8,3 m, điểm gần nhất cách dãy phân cách 0,15 m (vị trí số 2).
Trên bề mặt phần đế của dãy phân cách cách điểm cuối vị trí số 2 về hướng Quảng Trị 5,5 m và cách mặt đường 0,1 m là điểm đầu dấu vết cà xước bê tông dài 0,45 m, chiều hướng tịnh tiến song song theo chiều hướng khám nghiệm. Nằm ở vị trí tương ứng, phía trên đỉnh dãy phân cách có dấu vết cà xước bê tông dài 0,45 m, rộng 0,02 m. Từ điểm đầu vùng dấu vết này trên bề mặt dãy phân cách có nhiều dấu vết dạng đứt quãng, trượt dài theo hướng khám nghiệm, điểm cuối cùng cách điểm đầu tiên 49,6 m và cách mặt đường 0,25 m (vị trí số 3).
Trên mặt đường, tại làn đường tiếp giáp dãy phân cách cách điểm cuối vị trí số 3 về hướng Quảng Trị 2,9 m và cách mép lề chuẩn 9,3 m là điểm đầu dấu vết cà xước mặt đường dạng đứt quãng có chiều hướng theo hướng khám nghiệm, hơi lệch về bên phải, dấu vết này dài 1,7 m, khoảng rộng nhất 0,23 m, khoảng hẹp nhất rộng 0,02 m, điểm cuối nằm dưới đầu mút chân đạp khởi động xe phía bên trái (vị trí số 4).
Sau tai nạn, xe mô tô 43R2-4008 ngã nghiêng bên trái, thân xe nằm sát dãy phân cách, đầu xe hướng Quảng Trị, đuôi xe hướng ngược lại; trục sau cách điểm đầu vị trí số 4 về hướng Quảng Trị 1,8 m và cách mép lề chuẩn 8,6 m trục trước cách mép lề chuẩn 8,6 m và cách cột Km 791A+10 m QL1A về hướng Huế 03 m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô 43R-4008 ghi nhận:
- Dấu vết cà xước làm tróc sơn bên trái ốp mặt nạ đầu xe, kích thước (0,05 x 0,24) m.
- Dấu vết trầy xước làm mới kim loại mút tay thắng bên trái, kích thước (0,015 x 0,02) m.
- Dấu vết trầy xước, xơ mới cao su toàn bộ bề mặt lăn bên trái lốp trước.
- Dấu vết trầy xước làm mới kim loại đầu mút chân chống bên trái, kích thước (0,01 x 0,06) m.
- Dấu vết trầy xước làm mới kim loại mặt dưới phía trước, gác chân sau bên trái kích thước (0,02 x 0,08) m.
- Dấu vết trầy xước làm mới kim loại đầu mút bên trái chân chống giữa, kích thước (0,01 x 0,03) m.
- Dấu vết trầy xước làm mới kim loại đầu mút chân đạp khởi động máy bên trái, kích thước (0,01 x 0,02) m.
Tại Kết luận giám định số: 239/24/KLGĐTT ngày 11/10/2024, Trung tâm G kết luận nạn nhân Nguyễn Huỳnh P như sau:
- Các kết quả chính chính:
- Kết quả khám nghiệm: Chấn thương gãy xương cột sống cổ phần cao C; Dấu xây xát da mặt phải, ngực phải và phía ngoài chân phải. Xây xát nông trước cẳng chân trái.
- Kết quả khác: Không.
- Nguyên nhân chết: Phù hợp chấn thương gãy xương cột sống cổ C3-C4.
Tại Kết luận giám định số: 634/24/KLTTCT ngày 09/12/2024, Trung tâm Giám định y khoa - pháp y kết luận thương tích của Nguyễn Huỳnh T2 như sau:
- Kết quả khám giám định: Sẹo lớn gối trái 3%; sẹo mổ cẳng chân trái 2%; chấn thương gãy hai xương cẳng chân trái đã phẫu thuật, hiện đang hồi phục tốt, không ngắn chi 19%.
- Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Huỳnh T2 là 23% (hai mươi ba phần trăm).
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn và ma túy ngày 17/9/2024 xác định: Nguyễn Thị Như H không sử dụng ma túy và không có nồng độ cồn.
Tại Công văn số: 3115/SGTVT-QLVT ngày 11/11/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh Q xác nhận trên hệ thống dữ liệu của Sở và hệ thống dữ liệu quản lý giấy phép lái xe Trung ương, Nguyễn Thị Như H chưa được cấp giấy phép lái xe hạng A1.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ 01 (một) xe mô tô, hiệu YAMAHA, loại ULTIMO MIO, số khung RLCM23B30BY051521, số máy 23B3051523; 01 (một) biển kiểm soát 43R2-4008.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Như H đã vay mượn tiền để trả chi phí điều trị Nguyễn Huỳnh T2 và chi phí mai táng Nguyễn Huỳnh P.
Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKSPĐ ngày 28/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố H quyết định truy tố Nguyễn Thị Như H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội; không có ý kiến bào chữa. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến, yêu cầu gì khác. Ông Nguyễn Huỳnh H1 trình bày chiếc xe máy hiệu YAMAHA loại ULTIMO MIO do ông và bị cáo mua chung để sử dụng, không có yêu cầu nhận lại.
Lời sau cùng của bị cáo: “Bị cáo mong Tòa xem xét giảm nhẹ”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, dữ liệu điện tử và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 17/9/2024, Nguyễn Thị Như H điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA loại ULTIMO MIO gắn biển kiểm soát 43R-4008 dung tích xi lanh 114 cm³ lưu thông theo hướng Huế - Quảng Trị. Khi đến đoạn Km 791+30 m Quốc lộ A thuộc địa phận xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, thị xã P, thành phố H) là đoạn đường thuộc phạm vi biển báo nguy hiểm đi chậm nhưng H không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để xe chạy về phần đường bên trái va vào dải phân cách gây tai nạn giao thông.
Hành vi của Nguyễn Thị Như H không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển phương tiện tham gia giao thông như trên vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, khoản 1 và 11 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hậu quả tai nạn làm chết một người. Thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; phạm vào tình tiết “Không có giấy phép lái xe theo quy định”; tội danh và hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân:
Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Mặc dù bị cáo chưa có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn chủ quan điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, làm một người chết và một người khác bị tổn thương cơ thể 23%. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Tuy nhiên, nạn nhân trong vụ tai nạn là con đẻ của bị cáo; tai nạn xảy ra khi bị cáo cùng các con đi mưu sinh trở về.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả gây ra; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về hình phạt: Xét các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, có cơ sở áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
[6] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Xét bị cáo có nhân thân tốt, được địa phương nơi cư trú xác nhận; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phạm vào tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng; lần đầu phạm tội với lỗi vô ý; nạn nhân trong vụ tai nạn là con đẻ của bị cáo. Do đó, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo để không cần thiết bắt phải chấp hành hình phạt tù mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục nhằm thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[7] Về bồi thường thiệt hại: Đương sự không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xét thấy:
- 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại ULTIMO MIO, số khung RLCM23B30BY051521, số máy 23B3051523 theo kết quả xác minh đăng ký tên Nguyễn Tấn N. Năm 2024, ông Nguyễn Huỳnh H1 và Nguyễn Thị Như H mua để sử dụng. Cả hai chưa có giấy phép lái xe theo quy định và không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) biển số xe máy 43R2-4008 theo kết quả xác minh được đăng ký cho xe khác nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Như H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như H: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Thị Như H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về bồi thường thiệt hại: Đương sự không có yêu cầu nên không xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại ULTIMO MIO, số khung RLCM23B30BY051521, số máy 23B3051523.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 43R2-4008.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/5/2025 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phong Điền).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Bị cáo Nguyễn Thị Như H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Trần Văn Trường |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo P phạm tội
