TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11-6-2025
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Thạch Thanh Long
- - Ông Nguyễn Thành Công
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 478/2024/TLST-HN ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Bùi Văn P, sinh năm 1971 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24/10/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Tôi với anh Bùi Văn P quen biết nhau do mai mối và được sự thống nhất của gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới năm 1996, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 1999, sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do chồng thường xuyên ghen tuôn vô cớ dẫn đến bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cải với nhau không có tiếng nói chung, sống không còn tình cảm với nhau. Đến năm 2022 tôi bỏ về nhà mẹ ruột sống và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với anh P.
Về con chung: Có 01 người con tên Bùi Tấn Đ, sinh ngày 12/3/1997 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết người nuôi con.
Về tài sản chung: Nữ trang cưới gồm có 01 đôi bông 01 chỉ vàng 24Kra, Vòng tay 01 chỉ vàng 24Kra, sợi dây chuyền 02 chỉ vàng 24Kra. Số nữ trang này sau khi cưới vợ chồng đã giao cho cha chồng trừ cấn nợ nay không còn. Ngoài ra vợ chồng có tạo lập được hai miếng đất không biết số thửa và diện tích bao nhiêu, tài sản này sau này tôi để lại cho con tôi không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Bùi Văn P trình bày: Tôi với chị Nguyễn Thị H quen biết nhau do mai mối và được sự thống nhất của gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới năm 1996, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 1999, sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến khi vợ đi làm thuê thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau. Nay tôi không đồng ý ly hôn vì tôi còn thương vợ.
Về con chung: Có 01 người con tên Bùi Tấn Đ, sinh ngày 12/3/1997 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết người nuôi con.
Về tài sản chung: Nữ trang cưới gồm có 01 đôi bông 01 chỉ vàng 24Kra, Vòng tay 01 chỉ vàng 24Kra, sợi dây chuyền 02 chỉ vàng 24Kra. Số nữ trang này sau khi cưới vợ chồng đã giao cho cha chồng trừ cấn nợ nay không còn. Ngoài ra vợ chồng có tạo lập được hai miếng đất không biết số thửa và diện tích bao nhiêu, tài sản này sau này tôi để lại cho con tôi không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh P và chị H chưa đến mức trầm trọng có thể hàn gắn lại được nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 21 tháng 3 năm 1997 do Ủy ban nhân dân xã Đ cấp cho chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn P đã xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Bùi Văn P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H cho rằng, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẩn do anh P thường xuyên ghen tuôn vô cớ dẫn đến bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cải với nhau không có tiếng nói chung nên chị đi làm công ty về nhà mẹ ruột sống tối mới về nhà từ năm 2022 đến nay. Anh Bùi Văn P cho rằng, vợ chồng không có mâu thuẩn gì lớn, anh cũng thừa nhận trước đây khi vợ đi làm công ty thì vợ chồng cũng có hay cự cải với nhau. Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được” Thấy rằng, chị H với anh P sau khi cưới vợ chồng cất nhà trên phần đất được cha mẹ bên vợ cho ở. Hai vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc. Chị H và anh P có thời gian dài sống hạnh phúc với nhau hơn 20 năm và đã có con chung Bùi Tấn Đ nay con đã trưởng thành. Qua xác minh bà Ngô Thị B là mẹ ruột của chị P và xác minh chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị H anh P sinh sống và lời khai của chị H và anh P tại phiên tòa cho thấy, mâu thuẩn giữa vợ chồng chị H, anh P không có gì nghim trọng, anh P không có hành vi bạo lực gia đình, không có vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, hiện nay vợ chồng còn sống chung trong căn nhà, thỉnh thoảng anh P về nhà mẹ ruột lo bệnh cho mẹ ruột rồi về nhà cắt cỏ nuôi bò còn chị P đi làm công ty đến tối cũng về nhà lo cơm cho anh P. Nên những lý do mâu thuẩn vợ chồng mà chị H nêu trên để yêu cầu xin ly hôn với anh P là chưa phù hợp theo quy định như đã viện dẫn trên. Trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh P có thể hiện sự thành ý muốn được tiếp tục cuộc sống hôn nhân với chị H, cụ thể anh P đồng ý sẽ thay đổi không cự cải với chị H như trước đây nữa. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm giữa chị H và anh P chưa đến mức trầm trọng, gay gắt, có thể khắc phục, hàn gắn đoàn vụ vợ chồng, đời sống chung có thể kéo dài nên không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, cần cho vợ chồng chị H, anh P thêm thời gian để hằn gắn lại cuộc sống hôn nhân vợ chồng, cùng nhau làm ăn hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc.
[3] Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung giữa chị H và anh P.
[4] Chị H phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Bùi Văn P.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004746 ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long. Do đó, chị H không phải nộp thêm.
Án xử công khai có mặt các đương sự. Các đương sự trong vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hạnh xin ly hôn với anh Bùi Văn Phương
