Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 04-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mã Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lãnh Thị Muôn.
  2. Bà Hoàng Thị Lê .

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Dũng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn D; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1973, tại M, N, Cao Bằng.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ học vấn: 12/12.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Đảng viên Đ3. Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 76-QĐ/UBKTHU r 09 tháng 12 năm 2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy N5.

Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1938, nghề nghiệp: Hưu trí.

Con bà: Nông Thị C, sinh năm 1935, nghề nghiệp: Làm ruộng.

Ông N, bà C cùng trú tại: Xóm B, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Vợ: Nông Thị G, sinh năm 1983, nghề nghiệp: Làm ruộng.

Trú tại: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2013.

Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22-10-2024 đến ngày 26-12-2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, tại ngoại tại xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn D1 và Luật sư Phan Thị Ngọc B - hoạt động tại văn phòng L5 đoàn Luật sư tỉnh Cao Bằng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Địa chỉ trụ sở: Xóm Đ, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lục Văn M - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Q - Chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M (Văn bản ủy quyền số 02/UBND-GUQ ngày 02-6-2025). Có mặt.

  1. Ban Quản lý chợ N6

Địa chỉ: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lục Văn T - Chức vụ: Trưởng Ban quản lý chợ N6. Có mặt.

  1. Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1972, trú tại: Tổ I phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  2. Ông Hoàng Thanh H, sinh năm 1992.
  3. Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1972.
  4. Ông Lương Văn P, sinh năm 1964.
  5. Ông Hoàng Nông Trọng V, sinh năm 2000.

Cùng trú tại: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Ông H, bà H1, ông P, ông V có mặt.

- Người làm chứng có mặt tại phiên tòa:

Ông Vi Ngọc H2, sinh năm 1974, trú tại: Xóm H, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

- Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa:

  1. Ông Hà Văn T2, sinh năm 1991, trú tại: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  2. Bà Lê Thị L, sinh năm 1970, trú tại: Tổ A phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  3. Ông Triệu Thanh Đ, sinh năm 1987, trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  4. Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1976, trú tại: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  5. Bà Hoàng Thị B1, sinh năm 1973, trú tại: Tổ G phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  6. Bà Hà Thị H3, sinh năm 1952, trú tại: Xóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  7. Ông Dương Nguyễn H4, sinh năm 1989, trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  8. Bà Ma Thị Kim O, sinh năm 1994, trú tại: Xóm G, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  9. Bà Mạc Thị B2, sinh năm 1985, trú tại: Xóm Đ, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  10. Ông Triệu Trồng V1, sinh năm 1981, trú tại: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  11. Bà Ma Thị N1, sinh năm 1963, trú tại: Xóm M, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  12. Ông Mạc Văn D2, sinh năm 1971.
  13. Ông Ma Văn Q1, sinh năm 1987.
  14. Bà Mạc Thị T4, sinh năm 1962.

Cùng trú tại: Xóm L, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

  1. Bà Hoàng Thị H5, sinh năm 1965.
  2. Bà Lý Thị P1, sinh năm 1950.
  3. Bà La Thị H6, sinh năm 1974.
  4. Bà Lương Thị L1, sinh năm 1980.
  5. Hoàng Thị Y, sinh năm 1967.
  6. Bà Hoàng Thị P2, sinh năm 1945.
  7. Bà Ma Thị T5, sinh năm 1960.
  8. Bà Ngọc Thị P3, sinh năm 1973.
  9. Bà Nông Thị S, sinh năm 1963.
  10. Ông Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1975.
  11. Bà Chu Thị K, sinh năm 1963.
  12. Bà Hoàng Thị Đ1, sinh năm 1969.
  13. Ông Ngọc Văn S1, sinh năm 1970.
  14. Bà Hoàng Thị Â, sinh năm 1976.
  15. Bà Hoàng Thị B3, sinh năm 1964.
  16. Bà Nông Thị L2, sinh năm 1966.
  17. Bà Vi Ly N2, sinh năm 1983.
  18. Bà Hoàng Thị L3, sinh năm 1977.
  19. Bà Hoàng Thị T7, sinh năm 1971.

Cùng trú tại: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

  1. Ông Hoàng Văn Ẩ, sinh năm 1972.
  2. Bà La Thị H7, sinh năm 1972.

Cùng trú tại: Xóm H, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

  1. Ông Đinh Công Đ2, sinh năm 1987.
  2. Bà Nông Thị Y1, sinh năm 1979.
  3. Ông Hoàng Văn T8, sinh năm 1986.
  4. Ông Đặng Văn G1, sinh năm 1958.

Cùng trú tại: Xóm T, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ban Quản lý chợ Nó là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân xã M. Theo Quyết định số 680/QĐ-UBND ngày 03-3-2022 của Ủy ban nhân dân huyện N5 về việc kiện toàn Ban Quản lý chợ N6, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng, Ban Quản lý chợ Nà Bao gồm các ông, bà sau: Hoàng Văn D, sinh năm 1973, trú tại: Xóm N, xã M là Trưởng Ban; bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1972, trú tại: Tổ I phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng - cán bộ địa chính xã M là Phó trưởng ban và 03 thành viên gồm: Ông Hoàng Thanh H, sinh năm 1992, ông Lương Văn P, sinh năm 1964, bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1972 đều trú tại xóm N, xã M.

Ban Quản lý chợ Nó là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí hoạt động thường xuyên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và tài khoản riêng tại K1 (tuy nhiên Ban Quản lý chợ N6 không lập tài khoản tại Kho bạc). Các nguồn thu của Ban Quản lý chợ Nó chủ yếu gồm: Phí chợ (phí thu của người bán hàng các ngày chợ phiên loại 3.000đ, 5.000đ, 10.000đ), tiền thu của các hộ thuê địa điểm cố định tại chợ N6 (được tính 8.000đ/m²) và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Hoàng Văn D giữ chức vụ Trưởng Ban Quản lý chợ Nó phụ trách chung, điều hành toàn bộ hoạt động của Ban Quản lý chợ và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M về toàn bộ hoạt động của chợ và của Ban Quản lý chợ. Sau khi Ban Quản lý chợ Nó được kiện toàn, Ban Quản lý không xây dựng quy chế hoạt động, không ban hành văn bản phân công cụ thể nhiệm vụ của từng thành viên trong ban mà Trưởng ban chỉ nói phân công trong cuộc họp như sau: Hoàng Văn D là người quản lý, chi tiêu tất cả các khoản tiền của B4; trực tiếp thu tiền thuê của các hộ thuê địa điểm cố định tại chợ N6. Bà Hoàng Thị T1 là kế toán của B4. Vé thu phí trong các ngày chợ phiên được giao cho các thành viên trong Ban là Hoàng Thanh H, Lương Văn P, Hoàng Thị H1 thu rồi kiểm đếm đưa tiền lại cho D quản lý. Sau khi tổng hợp số tiền thu được, định kỳ hàng Q2, Dần gửi số liệu để bà T1 kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện N, số tiền còn lại do D chi tiêu cho các hoạt động của Ban Quản lý chợ N6, các khoản này đều được kê khai trong Báo cáo tài chính của Ban Quản lý chợ N6. Quá trình làm Trưởng ban, Hoàng Văn D tự thu tiền của các hộ thuê địa điểm cố định nhưng không kê khai, không thanh quyết toán theo quy định mà tự ý sử dụng, chi tiêu. Khi thu tiền, D không xuất hóa đơn, biên lai và lấy lý do chuyển đổi sang hóa đơn điện tử nên chưa xuất được hóa đơn hoặc tự sử dụng hóa đơn, biên lai thu tiền không do Chi cục thuế quản lý để đưa cho các hộ thuê. Cụ thể:

Vào đầu năm 2022, D yêu cầu các hộ thuê địa điểm tại chợ Nó nộp tiền thuê năm 2021 (gồm 10 tháng, được trừ 02 tháng do ảnh hưởng của dịch Covid 19). Các hộ đến gặp trực tiếp D tại chợ Nó hoặc tại nhà D để đóng tiền thuê. Dần sử dụng các tờ “Danh sách thu phí chợ cố định tại chợ N6 năm 2021", "Danh sách thu phí khu trung tâm cụm xã năm 2021", “Danh sách thu phí hàng thịt lợn năm 2021" để thu tiền và cho các hộ ký xác nhận vào mục "Ghi chú" hoặc đánh dấu tích “V” để xác nhận với tổng số tiền là 34.360.000đ, gồm 27 hộ kinh doanh: Hà Văn T2, Mạc Văn D2, Trần Văn T9 (do vợ là Hoàng Thị H5 nộp), Hoàng Thị Y, Hà Thị H3, Lý Thị P1, Hoàng Thị P2, Ma Thị T5, Hoàng Thị M1, Đặng Văn G1, Ngọc Thị P3, Lê Thị L, Lục Thị B5, Ma Văn Q1, Lý Thị P1, Nông Thị S, La Thị H7, Đoàn Ngọc L4, Mạc Thị T4, Triệu Thanh Đ, Hà Thu T10, Vy Ly N3, Hoàng Thị T11, Lý Tiến D3, Hoàng Thị B1, Hoàng Văn Ầ và Vi Ngọc H2.

Đến đầu năm 2023, D yêu cầu các hộ thuê địa điểm tại chợ Nó nộp tiền thuê năm 2022 (gồm 10 tháng, được trừ 02 tháng do tu sửa chợ), các hộ đến gặp trực tiếp D tại chợ Nó hoặc tại nhà để đóng tiền thuê. Dần ghi vào 01 quyền số màu đen với tổng số tiền là 35.650.000đ, bao gồm 26 hộ: Nguyễn Ngọc T6, Lý Tiến D3, Chu Thị K, Bà L, Hoàng Thị M2, Hoàng Thị Â, Hoàng Thị B3, Mạc Thị B2, Triệu Trồng V1, Trần Văn T9, Ma Thị N1, Hoàng Thị L3, Hà Thị H3, Dương Nguyễn H4, Hà Thu T10, Ma Thị T5, La Thị H7, Mạc Thị T4, La Thị H6, Hoàng Thị Đ1, Lê Thị L, Ngọc Thị P3, Ngọc Văn S1, Nguyễn Ngọc T12, Lương Thị L1, Hoàng Văn T8.

Tổng số tiền Hoàng Văn D thu của các hộ thuê địa điểm cố định không kê khai, không thanh quyết toán là 70.010.000đ. Dần đã chỉ tiêu cá nhân như: mua vật liệu để xây dựng nhà riêng; mua phôi giống nấm, tiền ăn uống, đi lại...

Ngày 24-7-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành làm việc với Chi cục Thuế huyện N, kết quả xác định các khoản tiền thu của Ban Quản lý chợ N7 02 loại tiền là tiền vé chợ (sử dụng quyển vé thu tiền do Chi cục Thuế huyện N quản lý) và tiền thu của các hộ thuê địa điểm cố định (sử dụng quyển hóa đơn do Chi cục Thuế huyện N quản lý). Số liệu báo cáo kê khai tài chính và nộp thuế đều do D tự kê khai cho Hoàng Thị T1 để làm báo cáo tài chính. Cho đến tháng 7 năm 2023, Ban Quản lý chợ Nó chưa xuất hóa đơn điện tử nào.

Ngày 20-9-2024, CQCSĐT Công an huyện N làm việc với Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng và Ban Quản lý chợ N6 (thời điểm Hoàng Văn D làm Trưởng Ban) làm rõ được: Ban Quản lý chợ Nó trong thời gian D làm Trưởng Ban không xây dựng và thực hiện Quy chế thu - chi, việc chi tiêu trong Ban quản lý chợ Nó được thống nhất như sau: Tiền thu được từ các nguồn thu của Ban N6 (tiền thu các hộ thuê địa điểm cố định và tiền vé các phiên chợ) sẽ được kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện N. Số tiền còn lại sau khi nộp thuế do Dần quản lý, chi tiêu cho các hoạt động của Ban Quản lý chợ N6 (được thống kê trong Báo cáo tài chính). Còn dư bao nhiêu là tiền công của các thành viên trong Ban Quản lý chợ N6, sẽ được chia đều cho D, H8, H, P (bà T1 chỉ được chia tiền công năm 2020, các năm còn lại không được chia). Ban Quản lý chợ Nó không báo cáo hoạt động, báo cáo định kỳ với Ủy ban nhân dân xã M. Vào tháng 7 năm 2022, Ủy ban nhân dân xã M đã kiểm tra hoạt động của Ban Quản lý chợ N6, yêu cầu Ban Nó thực hiện việc thu tiền phải có hóa đơn, kê khai nộp thuế, chi tiêu theo quy định và phải báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động cho Ủy ban nhân dân xã M. Tuy nhiên, Ban Quản lý chợ Nó không thực hiện. Hiện nay, Ban Quản lý chợ Nó đã được kiện toàn lại theo Quyết định số 4364 ngày 14-12-2023 của Ủy ban nhân dân huyện N5 nhưng Ban Quản lý chợ Nó cũ vẫn chưa bàn giao công tác tài chính cho Ban Quản lý chợ N6 mới.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T1, Hoàng Thanh H, Lương Văn P, Hoàng Thị H1 và những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng số 23/CT-VKSNB ngày 27-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn D về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội Tham ô tài sản. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn D mức án từ 03 đến 04 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được trừ đi thời gian tạm giam. Về vật chứng vụ án, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 70.010.000,₫ bị cáo đã tham ô, tịch thu tiêu huỷ các quyển cuống vé bán hàng và quyển hóa đơn đã thu giữ. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Về tố tụng, một số tài liệu trong hồ sơ vụ án không đảm bảo nguyên tắc khách quan, tính chính xác và giới tính của chủ thể tham gia tố tụng. Về số tiền được được xác định bị chiếm đoạt là 70.010.000,₫ (trong đó năm 2022 là 34.360.000,đ; năm 2023 là 35.650.000,₫) nhưng bị cáo khai tại các bút lục 665 - 666 đã chỉ nhiều khoản như mua dây cấp điện 30m = 660.000,đ; chi ăn sáng cho người lao động trong suốt thời gian làm Trưởng Ban Quản lý chợ tổng số tiền 14.400.000,đ và nhiều khoản chi khác là các khoản chi hợp lệ theo Thông tư số 67 ngày 11-7-2003 của Bộ T13 cần làm rõ. Mặc dù bị cáo và Ban Quản lý chợ không lập dự toán chi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng cũng cần được xem xét thấu đáo đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Bên cạnh đó, báo cáo công tác tài chính từ quý 3-2020 đến năm 2023 tổng chi 103.558.000,đ từ nguồn thu nào hồ sơ vụ án chưa thể hiện. Do đó cần được làm rõ những nội dung này trong hồ sơ vụ án để đảm bảo nguyên tắc khách quan và không bất lợi cho bị cáo. Ngoài ra, chính bị cáo cũng đã xin khai báo lại nhiều lần về việc dùng khoản tiền tạm thu của các hộ thuê địa điểm kinh doanh cố định tại chợ Nó vào việc mua vật liệu sửa nhà riêng trước khi bị áp dụng biện pháp tạm giam. Khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị cáo lại nhận dùng tiền đó mua vật liệu sửa nhà. Giai đoạn điều tra, bị cáo trong trạng thái tinh thần lo lắng, không ổn định về tâm lý khi bố đẻ ốm nặng (bố bị cáo đã chết sau khi bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn), con của bị cáo chuẩn bị xây dựng gia đình. Bị cáo khai báo dùng các khoản tạm thu từ các hộ thuê địa điểm kinh doanh cố định vào việc sửa nhà vào đầu năm 2022 nhưng trả lời tại các buổi hỏi cung bị cáo khai thu tiền của các hộ thuê địa điểm kinh doanh cố định đều vào cuối năm tháng 12/2022 và một số thời gian khác. Trong khi mua vật liệu xây dựng với cửa hàng L6 vào ngày 24-02-2023, mua giống Nấm vào khoảng tháng 09-2023. Như vậy chưa phù hợp về thời gian thu và chi như trong hồ sơ thể hiện cũng như chưa phù hợp với tổng số tiền thu của các hộ đăng ký kinh doanh địa điểm cố định, tổng số chiếm đoạt bằng tổng số thu. Đối với phần chi, chi sai hoặc hợp lệ theo Thông tư số 67/2003TT-BTC ngày 11/7/2003 của Bộ T13 là bao nhiêu cần được làm rõ. Cáo trạng số 23/CT-VKSNB ngày 27-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng cũng xác định: “Đối với các thành viên Ban Quản lý chợ Nó được chia tiền từ số tiền vi phạm pháp luật của bị can D. Qua điều tra không liên quan đến hành vi phạm tội của D, không biết số tiền trên do phạm tội mà có. Do vậy CQCSĐT Công an huyện N không đề nghị xử lý là có căn cứ”. Như vậy, Cáo trạng cũng xác định có chi cho các thành viên Ban Quản lý chợ từ số tiền vi phạm pháp luật do hành vi phạm tội mà có. Nếu khoản chi đó không được chấp nhận thì liên quan đến việc cần phải thu hồi để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Tại phiên toà hôm nay những vấn đề nêu trên không thể khắc phục được. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự trả hồ sơ điều tra bổ sung để đảm bảo nguyên tắc khách quan, tính chính xác số tiền đã bị chiếm đoạt và tài liệu chứng cứ xác lập đúng thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên: Đối với biên bản lấy lời khai của một số người làm chứng có sự nhầm lẫn về tên và giới tính tuy nhiên không ảnh hưởng đến nội dung của lời khai, người khai đã được nghe lại và ký tên xác nhận vào biên bản. Lời khai trong các biên bản lấy lời khai phù hợp với các chứng cứ khác thu thập được. Quá trình điều tra bị cáo khai đi khai lại nhiều lần và có sự thay đổi về lời khai. Tuy nhiên, các lời khai đều do bị cáo tự nguyện khai báo, có lời khai cũng có mặt của Luật sự. Lời khai của bị cáo đã làm rõ được số tiền bị cáo chiếm đoạt. Quá trình điều tra đã chứng minh, làm rõ được hành vi phạm tội của bị cáo nên không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng, nguyên nhân phạm tội là do bị cáo thiếu hiểu biết, không được cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân xã H, tập huấn về nghiệp vụ Quản lý chợ. Quá trình bị cáo làm Trưởng ban, Ủy ban nhân dân xã cũng không yêu cầu báo cáo, không kiểm tra, giám sát hoạt động của Ban Quản lý chợ N6. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Q: Ban quản lý chợ Nó là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân xã M. Hàng năm, hàng quý, Ban không thực hiện chế độ báo cáo với Ủy ban nhân dân xã nên Ủy ban không nắm được tình hình hoạt động của B4.

Bà Hoàng Thị T1: Bà T1 là cán bộ địa chính xã M, được phân công làm Phó Trưởng Ban quản lý chợ N6, là kế toán của B4. Việc chi tiêu của B4 đều do ông D trực tiếp thực hiện, ông D cung cấp số liệu cho bà T1 làm các thủ tục để nộp thuế. Đối với số tiền thu của các hộ thuê địa điểm kinh doanh trong năm 2022 và 2023 ông D không cung cấp hóa đơn, giấy tờ cho bà để kê khai nộp thuế. Các khoản thu - chi do ông D tự quản lý, hàng năm không được công khai nên các thành viên trong Ban cũng không biết đến các khoản thu này.

Ông Hoàng Thanh H, bà Hoàng Thị H1, ông Lương Văn P khai: ông H, ông H1, bà P là thành viên của Ban Quản lý chợ N6, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của ông D. Tất cả các khoản thu của B4 do ông D trực tiếp quản lý và chi tiêu. Khi ngồi nói chuyện, ông D có nói chi những khoản nọ, khoản kia như đã khê khai trong Báo cáo tài chính tuy nhiên không lập sổ quỹ để quản lý việc thu chi, hàng năm không thực hiện công khai tài chính. Các ông, bà không biết khoản tiền ông D thu của các hộ thuê địa điểm cố định trong năm 2022, 2023 và không biết ông D đã chi tiêu như thế nào.

Ông Lục Văn T: Hiện nay ông Lục Văn T là Trưởng Ban quản lý chợ N6. Đối với số tiền ông D tham ô từ việc thu của tiền của các hộ thuê địa điểm cố định chợ N6 trong năm 2021, 2022 Ban N6 không yêu cầu trả lại cho Ban Quản lý chợ Nó mới do năm 2021, 2022 Ban Quản lý chợ Nó cũ đã báo cáo nộp thuế, thanh quyết toán xong các khoản thu chi của năm 2021, 2022. Ban Quản lý chợ N6 mới nhận bàn giao từ ngày nào thì tự quản lý các khoản thu chi từ lúc nhận bàn giao. Đối với các cuống vé thu tiền và quyển hóa đơn cơ quan Công an đã thu giữ Ban Quản lý chợ N8 mới cũng không đề nghị nhận lại do Ban Quản lý chợ Nó cũ đã thanh quyết toán xong.

Ông Hoàng Nông Trọng V: Ông V là con trai của bị cáo D. Đối với số tiền 64.480.000,đ cơ quan Công an đã tạm giữ theo biên bản lập ngày 19-11-2024 là tiền của ông D. Ông D nộp để khắc phục số tiền đã tham ô.

Ý kiến của người làm chứng: Ông H2 kinh doanh thuê địa điểm bán thịt lợn tại chợ N6. Đầu năm 2022, ông H2 đóng tiền thuê địa điểm kinh doanh của năm 2021 cho ông D số tiền 250.000,đ nhưng ông D không đưa hóa đơn hay giấy tờ gì cho ông H2 mà chỉ đánh dấu vào một tờ danh sách thu tiền.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng thủ tục tố tụng còn nhiều vi phạm nên yêu cầu Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy, trong nhiều biên bản ghi lời khai của người làm chứng, do sơ xuất khi đánh máy nên sai tên, giới tính. Tuy nhiên, nội dung lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như bảng kê danh sách thu phí, danh sách tên những người nộp tiền trong sổ tay bị cáo tự ghi. Biên bản ghi lời khai có chữ ký xác nhận của những người được lấy lời khai. Nhầm lẫn về tên và giới tính không ảnh hưởng đến nội dung lời khai nên các tài liệu đó được công nhận là chứng cứ của vụ án.

Luật sư cho rằng, quá trình chi tiền, bị cáo đã chi thực tế cho các hoạt động trong Ban như mua loa kéo, thanh toán tiền điện, thanh toán tiền công... nên cần được trừ vào số tiền Kết luận điều tra và Cáo trạng đã xác định bị cáo tham ô. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được tài Chi cục thuế huyện N và Báo cáo thu chi tài chính do bị cáo lập, các khoản chi đó được chi từ khoản kinh phí còn lại của các loại vé, phí sau khi đã được quyết toán và nộp thuế không nằm trong số tiền 70.010.000,đ thu được từ các hộ kinh doanh địa điểm cố định bị cáo đã tham ô. Ngoài báo cáo tài chính do bị cáo lập, bị cáo không chứng minh được đã chi số tiền tham ô cho những khoản nào nên bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với số tiền đã tham ô.

[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn D hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai: Vào đầu năm 2022 và đầu năm 2023, với chức trách, nhiệm vụ là Trưởng Ban Quản lý chợ Nó bị cáo đã thu tiền của 53 người thuê địa điểm kinh doanh cố định tại chợ N6 với tổng số tiền là 70.010.000,đ (năm 2022 là 34.360.000,đ; năm 2023 là 35.650.000,đ) nhưng không báo cáo tài chính, không kê khai nộp thuế theo đúng quy định và chi tiêu hết số tiền này.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

Điều 353. Tội Tham ô tài sản

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

c, phạm tội 02 lần trở lên;

..."

[3] Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do tư tưởng hám lợi bất chính và thái độ làm việc thiếu trách nhiệm của bị cáo. Khi được giao đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban quản lý chợ, bị cáo không tìm hiểu các văn bản liên quan quy định về quyền hạn, trách nhiệm của mình cũng như không tìm hiểu các quy định của pháp luật về hoạt của Ban Quản lý chợ, không công khai, minh bạch trong hoạt động thu chi. Đặc biệt một phần nguyên nhân cũng xuất phát từ chế độ quản lý Nhà nước còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, thiếu sự kiểm tra, giám sát của chính quyền xã M đã tạo ra kẽ hở cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Động cơ, mục đích của bị cáo chiếm đoạt tiền nhằm chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đáng lên án do đi ngược lại với đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn của Ban Quản lý chợ N6, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, được Ủy ban nhân dân xã M xác nhận chấp hành tốt đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nội quy, quy ước của địa phương, tham gia ủng hộ và đóng góp vào các cuộc vận động, xây dựng thôn xóm, đền ơn đáp nghĩa, mái ấm tình thương, an ninh trật tự... Bị cáo là người có trình độ văn hóa, hiểu biết xã hội nắm rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực khác trong cán bộ, Đảng viên. Tuy nhiên bị cáo lại hành động đi ngược lại với quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra thành phần khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả với tổng số tiền 70.010.000,đ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Văn N được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang các hạng Nhất, N4; những tiểu thương kinh doanh tại chợ Nó có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

Sau khi cân nhắc mức độ nguy hiểm của hành vi, nguyên nhân, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, đã thật sự ăn năn, hối lỗi trước hành vi của mình và khắc phục toàn bộ hậu quả, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

- Đối với số tiền 70.010.000,đ bị cáo đã tham ô là tiền thuê địa điểm kinh doanh chợ N6 năm 2021 và năm 2022, Ban Quản lý chợ N6 không yêu cầu được nhận lại số tiền này do đó tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 80 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 3.000,đ; 75 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 5.000,đ; 10 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 6.000,đ; 14 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 10.000,đ; 01 quyển hoá đơn bán hàng từ số 0018351 đến số A, những liên chưa viết đã bị cắt góc Ban quản lý chợ Nó không yêu cầu được nhận lại, những vật trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét thấy, Cáo trạng số 23/CT-VKSNB ngày 27-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo về tội Tham ô tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội "Tham ô tài sản".

2. Về Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án và được trừ đi 02 tháng 04 ngày đã bị bắt tạm giam.

3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 70.010.000,đ (Trong đó 64.480.000,đ đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự mở tại kho bạc Nhà nước theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 13 ngày 26-02-2025; 5.530.000,đ bị cáo nộp tạm thu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo Biên lai thu tiền số 0003598 ngày 18-02-2025 và biên lai thu tiền số 003637 ngày 04-6-2025).

- Tịch thu tiêu hủy: 80 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 3.000,đ; 75 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 5.000,đ; 10 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 6.000,đ; 14 quyển cuống vé thu tiền mệnh giá 10.000,đ; 01 quyển hoá đơn bán hàng từ số 0018351 đến số A, những liên chưa viết đã bị cắt góc. Vật chứng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 13 ngày 26-02-2025.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Minh Tâm;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Mã Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG về vụ án hình sự (tội tham ô tài sản)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào đầu năm 2022 và đầu năm 2023, với chức trách, nhiệm vụ là Trưởng Ban Quản lý chợ N6 bị cáo đã thu tiền của 53 người thuê địa điểm kinh doanh cố định tại chợ N6 với tổng số tiền là 70.010.000,đ (năm 2022 là 34.360.000,đ; năm 2023 là 35.650.000,đ) nhưng không báo cáo tài chính, không kê khai nộp thuế theo đúng quy định và chi tiêu hết số tiền này.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger