Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-PT

Ngày: 14/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Huỳnh Đắc Đương

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai thụ lý số: 19/2025/HSPT, ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Thạch N, do có kháng cáo của bị cáo Thạch N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo: Thạch Nhân, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Khmer; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật; Họ tên cha Thạch M, sinh năm: 1953 (chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1955 (chết); Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1983 và nhỏ nhất sinh năm 1991; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 cho đến nay.

- Người bào chữa cho bị cáo Thạch N: Luật sư Phạm Minh L – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.

Ngoài ra trong vụ án còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Thạch N và bà Võ Thị Thúy H quen biết nhau từ trước. Do cần tiền tiêu xài và biết N có cho vay tiền nên H hỏi vay tiền của N cụ thể như sau:

Ngày 01/11/2022, H vay tiền của N số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 15.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, hình thức vay đứng, thanh toán lãi cho N mỗi ngày bằng cách H thanh toán tiền lãi bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S của ngân hàng A do N đang quản lý. Địa điểm vay tiền tại nhà N thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Thạch Nhân đã thu tiền lãi của H như sau:

Ngày 01/11/2022 đến ngày 03/7/2023, N đã thu tiền lãi của H được (240 ngày) với số tiền 750.000 đồng x 240 ngày = 180.000.000 đồng.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365 = 0,0548%/ngày của số tiền vay 50.000.000 đồng, tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 50.000.000 đồng x 240 ngày = 6.576.000 đồng.

Tiền thu lợi bất chính: 180.000.000 đồng – 6.576.000 đồng = 173.424.000 đồng.

Ngày 04/7/2023 đến ngày 28/7/2023, N giảm lãi suất cho H còn 730.000 đồng/ngày, tương ứng với mức lãi suất là 1,46%/ngày, tức 532,9%/năm. N thu tiền lãi của H được (25 ngày), với số tiền là 730.000 đồng x 25 ngày = 18.250.000 đồng.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365= 0,0548%/ngày của số tiền vay 50.000.000 đồng, tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 50.000.000 đồng x 25 ngày = 685.000 đồng.

Tiền thu lợi bất chính: 18.250.000 – 685.000 đồng = 17.565.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền N thu lợi bất chính của H là 173.424.000 đồng + 17.565.000 đồng = 190.989.000 đồng. Hiện nay, H còn nợ N số tiền vay ban đầu là: 50.000.000 đồng.

+ Tiếp đến, N cho chị Kim Thị T, sinh năm 1979, nơi cư trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh vay.

Ngày 01/11/2023, N cho T vay số tiền 10.000.000 đồng, hình thức vay đứng, đóng tiền lãi mỗi ngày, thỏa thuận lãi suất nếu vay 1.000.000 đồng thì mỗi ngày phải đóng tiền lãi là 15.000 đồng, tương ứng với số tiền vay 10.000.000 đồng thì mỗi ngày T phải đóng tiền lãi là 150.000 đồng, tương ứng với mức lãi suất là 1,5%/ngày tức là lãi suất 547,5%/năm. Địa điểm vay tiền tại nhà N thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 01/11/2023 đến ngày 27/01/2024, N đã thu tiền lãi của T được (88 ngày) với số tiền là 150.000 đồng x 88 ngày = 13.200.000 đồng. Tuy nhiên, N mới nhận được của T số tiền 11.250.000 đồng, còn số tiền lãi 1.950.000 đồng thì khi T đang đưa cho N 2.000.000 đồng thì bị Công an tạm giữ vào ngày 06/3/2024.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365= 0,0548%/ngày của số tiền vay 10.000.000 đồng. Tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 10.000.000 đồng = 5.480 đồng/ngày. Tổng số tiền N thu tiền lãi (88 ngày) thì mức tiền lãi mà nhà nước cho phép là 5.480 đồng/ngày x 88 ngày = 482.240 đồng.

Tiền thu lợi bất chính là: 13.200.000 – 482.240 đồng = 12.717.760 đồng.

Ngày 01/12/2023, T tiếp tục vay thêm tiền N số tiền 10.000.000 đồng, cũng hình thức vay đứng, đóng tiền lãi mỗi ngày, thỏa thuận lãi suất số tiền vay 10.000.000 đồng thì mỗi ngày phải đóng tiền lãi là 150.000 đồng, tương ứng với mức lãi suất là 1,5%/ngày, tức là lãi suất 547,5%/năm. Địa điểm T vay tiền tại nhà N thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Nhân thu tiền lãi của Thang từ ngày 01/12/2023 đến ngày 14/01/2024 được (45 ngày), với số tiền đóng lãi là 150.000 đồng x 45 ngày = 6.750.000 đồng. Sau đó, T trả cho N số tiền vay gốc 10.000.000 đồng vào ngày 14/01/2024 của lần vay này.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365= 0,0548%/ngày của số tiền vay 10.000.000 đồng. Tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 10.000.000 đồng = 5.480 đồng/ ngày. Tổng số tiền thu lãi của T là (45 ngày) thì mức tiền lãi mà nhà nước cho phép là 5.480 đồng/ngày x 45 ngày = 246.600 đồng.

Tiền thu lợi bất chính: 6.750.000 đồng – 246.600 đồng = 6.503.400 đồng.

Như vậy, tổng số tiền N thu lợi bất chính của T 02 lần vay là: 12.717.760 đồng + 6.503.400 đồng = 19.221.160 đồng. Hiện nay, T còn nợ N số tiền vay ban đầu là: 10.000.000 đồng.

+ Tiếp tục, N cho Kim Thanh D, sinh năm 1978, nơi cư trú ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh vay.

Ngày 01/01/2022, N cho D vay với số tiền 15.000.000 đồng, hình thức vay đứng, đóng tiền lãi mỗi ngày, thỏa thuận lãi suất với số tiền vay 15.000.000 đồng thì mỗi ngày phải đóng tiền lãi là 150.000 đồng, tương ứng với mức lãi suất là 1 %/ngày, tức là lãi suất 365%/năm. Địa điểm vay tiền tại nhà N thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. N đã thu tiền lãi của D cụ thể như sau:

Ngày 01/01/2023 đến ngày 31/07/2023, thỏa thuận lãi suất 150.000 đồng cho số tiền vay 15.000.000 đồng, N đã thu tiền lãi Diệp được (212 ngày) với số tiền là 150.000 đồng x 212 ngày = 31.800.000 đồng.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365= 0,048%/ngày của số tiền vay 15.000.000 đồng. Tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 15.000.000 đồng = 8.220 đồng/ngày. Tổng số 212 ngày thì mức tiền lãi nhà nước cho phép là 8.220 đồng/ngày x 212 ngày = 1.742.640 đồng.

Tiền thu lợi bất chính: 31.800.000 – 1.742.640 đồng = 30.057.360 đồng.

Ngày 01/08/2023 đến ngày 14/9/2023, N giảm lãi suất cho D, thỏa thuận lãi suất 6.667 đồng/1.000.000 đồng, tương ứng với số tiền vay 15.000.000 đồng thì phát sinh tiền lãi là 100.000 đồng, N đã thu tiền lãi của D được (45 ngày) với số tiền đóng lãi là 100.000 đồng x 45 ngày = 4.500.000 đồng. Sau đó, D ngưng đóng tiền lãi và không thanh toán tiền vốn cho N.

Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 20%/năm, tức là 20%:365= 0,0548%/ngày của số tiền vay 15.000.000 đồng. Tiền lãi ngày nhà nước cho phép = 0,0548%/ngày x 15.000.000 đồng = 8.220 đồng/ngày. Tổng số (45 ngày) thì mức tiền lãi nhà nước cho phép là 8.220 đồng/ngày x 45 ngày = 369.900 đồng.

Tiền thu lợi bất chính: 4.500.000 đồng – 369.900 đồng = 4.130.100 đồng.

Tổng số tiền N thu lợi bất chính của D là: 30.057.360 đồng + 4.130.100 đồng = 34.187.460 đồng. Hiện nay, D còn nợ N số tiền vay ban đầu là: 15.000.000 đồng

Như vậy, tổng số tiền N đã thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng đối với Võ Thị Thúy H; Kim Thị T và Kim Thanh D là: 190.989.000 đồng + 19.221.160 đồng + 34.187.460 đồng = 244.397.620 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Thạch N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Thạch N 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/12/2024, bị cáo Thạch N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Thạch N thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cung cấp trong giai đoạn truy tố đã nộp khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xin được tiếp tục nộp 50.000.000 đồng được Hội đồng xét xử đồng ý, hoàn cảnh gia đình đơn chiết, đang nuôi 03 đứa cháu còn nhỏ, gia đình có người thân có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong

hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo cung cấp thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đơn chiết, đang nuôi 03 người cháu và có người thân có công với cách mạng, được chính quyền địa phương xác nhận và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện nộp 50.000.000 đồng, thể hiện ý chí của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo tiếp tục nộp số tiền 50.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng nhưng không được cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ. Với những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 bộ luật hình sự. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Thạch N: Thống nhất ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch N: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, chuyển đổi hình phạt từ phạt tù sang phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[2] Đối với kháng cáo của bị cáo Thạch N yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ cho bị cáo hình phạt là phạt tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua quá trình truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thạch N khai nhận: Thời gian từ ngày 01/11/2022 đến tháng 12/2023, Thạch N đã sử dụng số tiền vốn ban đầu là 85.000.000 đồng đã nhiều lần cho bà Võ Thị Thúy H, bà Kim Thị T và bà Kim Thị D1 vay với lãi suất cao, với mức lãi suất từ 243,333%/năm đến 547,5%/năm, tức là gấp từ 12,167 lần đến 27,375 lần so với mức lãi suất của Bộ luật dân sự quy định, sau đó bị cáo N thu lợi bất chính với số tiền là 244.397.620 đồng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Thạch Nhân T1 “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt: Bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ, cụ thể Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị cáo là cho bị cáo nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng và trước đó ở cấp sơ thẩm bị cáo nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thật thà khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, hoàn cảnh gia đình của bị cáo đơn chiết, đang nuôi 03 người cháu còn đang tuổi đi học, cần sự quan tâm chăm sóc của bị cáo, bị cáo có người thân tham gia cách mạng, vấn đề này được chính quyền địa phương xác nhận. Căn cứ vào Điều 3 Nghị quyết số 01/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: việc xử phạt tù giam đối với bị cáo là bị cáo không thật thà khai báo, không ăn năn, hối cải, các bị cáo băng nhóm chuyên nghiệp cho vay lãi nặng. Bị cáo không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 01/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, người bào chữa cho bị cáo cũng như đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận. Việc sửa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch N.

Sửa một phần hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2024/HS-ST, ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố bị cáo Thạch N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch N 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, nộp vào ngân sách nhà nước. Số tiền 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng bị cáo đã nộp tại cơ quan thi hành án, tiếp tục bảo đảm việc thi hành án (Bị cáo nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh số tiền 5.000.000 đồng; Tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh là 50.000.000 đồng).

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Thạch N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Trà Vinh:
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 21/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger