|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS - ST |
Ngày: 21 - 3 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Đặng Viết Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Tuyết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại phòng xét xử trực tuyến điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 01 Công an Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST - HS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với:
Bị cáo Kiều Văn T, sinh năm 1999 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn T1 và bà Hoàng Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, có 01 tiền sự: tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2023/QĐ-XLHC ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo thời hạn 20 tháng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02, Công an Thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đức T2, sinh năm 1997; trú tại: Thôn T, xã P, huyện Ứ, Thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kiều Văn T là người nghiện ma túy. Ngày 09/01/2025, T đi đến khu vực quận T, Thành phố Hà Nội mua 50 viên nén hình tròn màu hồng (ma túy ngựa) với giá 2.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. T mang về nhà sử dụng 04 viên, còn lại chia 02 túi (01 túi chứa 40 viên, 01 túi chứa 06 viên) cất giấu tại phòng trọ ở thôn B, xã B, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 10/01/2025, T đang ở phòng trọ thì anh Trần Đức T2 gọi điện, nhắn tin hỏi mua 500.000 đồng ma túy ngựa, Thành đồng ý. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, T2 đến phòng trọ của T đưa 500.000 đồng, T cầm tiền rồi vào lấy ma túy chưa kịp đưa cho T2 thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện Ứ phối hợp với Công an xã B và công an xã P, huyện Ứ kiểm tra bắt quả tang thu giữ của T: 01 túi chứa 40 viên nén hình tròn màu hồng, 01 gói chứa 06 viên nén màu hồng, số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím; thu giữ của T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng.
Tổ công tác đã đã lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và gửi đi trưng cầu giám định theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 762/KL-KTHS ngày 19/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
“- 40 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 3,810 gam
- 06 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 gói ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,600 gam”.
Tại cáo trạng số 16/CT - VKS ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo Kiều Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025; Đề nghị tịch thu tiêu huỷ, sung công quỹ vật chứng của vụ án; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đồng thời buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dụng vụ án:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường, Biên bản thu giữ vật chứng, Biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định... có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/01/2025, tại phòng trọ của Kiều Văn T ở thôn B, xã B, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện Ứ phối hợp với Công an xã B và công an xã P, huyện Ứ đã bắt quả tang Kiều Văn T đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho anh Trần Đức T2; thu giữ của T 4,41 gam ma túy loại Methamphetamine. Với hành vi nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo Kiều Văn T ra trước Tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật, tội danh và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Trong khi cả nước đang nỗ lực tìm mọi giải pháp đẩy lùi, triệt phá tệ nạn ma túy thì hành vi bán trái phép chất ma tuý của Kiều Văn T là hết sức nguy hiểm cho xã hội bởi bị cáo không chỉ xâm hại đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, mà còn làm phương hại nghiêm trọng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo với một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở về con đường lương thiện đồng thời cũng để làm gương cho người khác
Khi quyết định hình phạt, đã cân nhắc đến việc bị cáo quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự nhân đạo của Pháp luật.
Tuy hành vi phạm tội của bị cáo có động cơ trục lợi bất chính, song mục đích thu lời chỉ để có tiền sử dụng ma túy, bản thân bị cáo không có công ăn việc làm, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với anh Trần Đức T2 có hành vi mua ma túy của T nhằm mục đích sử dụng và chưa cầm nhận số ma túy T bán cho nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T2 là hợp lẽ.
Đối với người nam giới theo T khai đã bán ma túy cho T ở khu vực quận T, Thành phố Hà Nội. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới này, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra xác minh nên chưa xét trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án: Số tiền 500.000 đồng thu giữ của Kiều Văn T là tiền bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (thu giữ của T) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG (thu giữ của T2) đều là phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; số ma túy loại Methamphetamine lưu giữ trong phong bì có chữ ký của giám định viên và bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, b Khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Kiều Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử:
Phạt bị cáo Kiều Văn T 40 (Bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025. (Có Quyết định tạm giam kèm theo).
- Áp dụng các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- + Tịch thu để tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong đề Công an Thành phố H, đơn vị Công an huyện Ứ, ngày niêm phong 10/01/2025; mặt bên phong bì có chữ ký của giám định viên, bị cáo và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong. Bên trong phong bì có ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- - Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Kiều Văn T là tiền bán trái phép chất ma tuý mà có.
- - 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong của Kiều Văn T.
- - 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong của Trần Đức T2.
- Số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 và Ủy nhiệm chi lập ngày 20/02/2025.
- Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Kiều Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Anh Phương |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Anh Phương |
Bản án số 21/2025/HS - ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 21/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiều Văn Thành phạm tội ma tuý
