Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03/4/2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Tam;
  2. Bà Văng Thảo Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 381/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mỹ T, sinh năm: 1988; địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có đơn vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T trình bày và yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 được mai mối tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 và Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011 hiện các cháu sống cùng chị T và anh T1. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng các cháu T2 và M, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T có đơn xin vắng mặt.

* Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Anh T1 trình bày và ý kiến:

- Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện kết hôn và thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật đúng như lời trình bày của chị T. Nay, chị T yêu cầu ly hôn, anh T1 không đồng ý ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh T1 và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 và Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011, anh T1 có ý kiến để các con tự quyết định.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Qua biên bản xác minh tại khóm L, phường L, thị xã T cho biết, anh Nguyễn Anh T1 hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì, mâu thuẫn giữa anh T1 với chị T xảy ra Ban khóm không biết do không trình báo.

- Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 17/01/2025 của Tòa án đối với cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 (có sự giám hộ của chị Cao Thị Mỹ T). Cháu Nguyễn Minh T2 trình bày nguyện vọng sống chung với cha là ông Nguyễn Anh T1 khi cha, mẹ cháu ly hôn. Tại đơn đề ngày 10/11/2024 của cháu Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011 có ý kiến nguyện vọng sống với mẹ là bà Cao Thị Mỹ T khi cha, mẹ cháu ly hôn.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Anh T1 nhưng anh T1 vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). Tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt không rỏ lý do; chị T có đơn vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án theo quy định tại các Điều 70, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị T có đơn xin vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử;

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Anh T1.

- Về con chung: Chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011, anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007, không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Cao Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Anh T1 có địa chỉ cư trú tại: Tổ H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị T có đơn vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 31 tháng 7 năm 2006 cấp cho Nguyễn Anh T1 và Cao Thị Mỹ T). Hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị T khai: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023, Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc. Nay, chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn sống chung với nhau được và xin ly hôn với anh T1.

Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh T1 và chị T hàn gắn tình cảm, nhưng anh T1 vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng anh T1 và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị T ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 và Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011.

Chị T yêu cầu được nuôi các cháu Nguyễn Minh T2 và Nguyễn Cao Hải M; quá trình tố tụng, anh T1 trình bày để các con có ý kiến nguyện vọng sống với cha hay mẹ tự quyết định. Cháu Nguyễn Minh T2 trình bày nguyện vọng sống chung với cha là ông Nguyễn Anh T1 khi cha, mẹ cháu ly hôn; cháu Nguyễn Cao Hải M có ý kiến nguyện vọng sống với mẹ là bà Cao Thị Mỹ T khi cha, mẹ cháu ly hôn.

Để đảm bảo môi trường sống và nguyện vọng của các cháu T2 và M không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của các con; mặt khác cháu Nguyễn Minh T2 trình bày nguyện vọng sống chung với cha là ông Nguyễn Anh T1 khi cha, mẹ cháu ly hôn và chị T cũng không có ý kiến gì về nguyện vọng của cháu T2 trình bày sống với cha (ông T1) khi cha, mẹ cháu ly hôn và cũng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Từ những nhận định trên, HĐXX:

Giao cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 cho anh Nguyễn Anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con thành niên và lao động được; giao cháu Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011 cho chị Cao Thị Mỹ T được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành và lao động được. Chị T và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

[3] Về tài sản và nợ chung: Chị Cao Thị Mỹ T và anh Nguyễn Anh T1 trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Anh T1.
  2. Về nuôi con chung: Chị Cao Thị Mỹ T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Cao Hải M, sinh ngày 09/11/2011 cho đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động; anh Nguyễn Anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 30/12/2007 cho đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động. Không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    Chị Cao Thị Mỹ T và anh Nguyễn Anh T1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008744 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị Cao Thị Mỹ T đã nộp đủ án phí. Anh Nguyễn An T3 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Cao Thị Mỹ T và anh Nguyễn Anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tân Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Tân Châu;
  • - UBND xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 21 ngày 03/4/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger