TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày: 03/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và ông Đào Huy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Lã Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Diêu Thị T, sinh năm 1975 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; ĐKHKTT tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Tạm trú: Thôn V, xã Hội Thịnh, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Diêu Vân T1, sinh năm 1954 và bà Hầu Thị B, sinh năm 1953; Chồng anh Sầm Văn Đ, sinh năm 1974; con: có 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Danh S-Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Sỹ T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn K, xã K, S, Hà Nội; Vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn A, xã S, P, Hà Nội ;Vắng mặt
- Chị Triệu Phương H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn B, M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Diêu Thị T sử dụng số điện thoại 0974.079.xxx, tài khoản zalo “Katinai”. Trong thời gian tìm việc tại địa bàn thị xã S, T có quen Nguyễn Văn T3, sử dụng số điện thoại 0384.157.xxx. Chiều ngày 19/12/2024 T nhận được điện thoại của T3, về việc T3 muốn mua dâm T, hai bên thỏa thuận giá mua dâm là 500.000đ/lần, nếu nhiệt tình T3 sẽ thưởng thêm tiền. Cùng thời điểm Đặng Sỹ T2 đang ngồi uống rượu cùng Nguyễn Văn T3, thấy T3 gọi điện mua dâm nên T2 sử dụng số điện thoại của mình 0924.420.xxx, đăng ký tài khoản zalo “Chính Là A” kết bạn với tài khoản zalo của T rồi gọi điện, nhắn tin cho T nhờ bố trí gái cho T2 mua dâm, T đồng ý và gọi điện video cho T2 nhìn mặt Triệu Phương H (là bạn T) nhưng T2 tắt máy và nhắn tin cứ bố trí gái bán dâm nhiệt tình là được, hai bên thỏa thuận giá bán dâm là 600.000đ/lần, tiền công cho T là 200.000đ, tiền thuê xe 300.000đ, T2 đồng ý. Sau đó T trao đổi lại với H sang thị xã S bán dâm cho khách, giá 600.000đ/lần và H đồng ý.
Chiều cùng ngày, Diêu Thị T điều khiển xe máy Honda SH, BKS 22S1-509.19 chở Triệu Phương H từ Vĩnh Phúc đến nhà nghỉ M ở Thôn C, xã Đ, thị xã S, đến nhà nghỉ khoảng 16 giờ 30. Khi biết T3 và T2 đã đến nhà nghỉ, T tự lấy bao cao su rồi cùng H đi lên tầng ba nhà nghỉ thì gặp T3 và T2 đang đứng ở hành lang, T2 nhìn thấy Triệu Phương H ưng ý nên đưa cho T 500.000đ và nói 300.000₫ là tiền xe, còn 200.000đ là tiền công của em. T cầm tiền rồi hỏi T2 tiền công của bạn em đâu thì T2 nói sẽ đưa cho H sau.Tại phòng 301 Thần bán dâm cho T3, phòng 302 H bán dâm cho T2. Khi các đối tượng đang mua bán dâm thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Công an thu tại phòng 301 : 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 hộp bao cao su hình vuông có chữ BLOVE đã bị xé rách; 01 vỏ bao cao su đã bị xé (T, T3 khai là bao cao su vừa mua bán dâm); thu của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung và số tiền 2.800.000đ (trong đó có 700.000đ tiền bán dâm T3 trả, 500.000₫ T2 trả tiền công và thuê xe); thu của T3 01 điện thoại di động.
T4 tại phòng 302 : 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su đã bị xé (T2, H khai là bao cao su vừa mua bán dâm); thu của H 02 điện thoại di động; số tiền 1.330.000₫ (trong đó có 600.000₫ là tiền T2 trả mua dâm); 01 túi xách màu đen; thu của Đặng Sỹ T2 01 điện thoại di động.
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu của Diều Thị T5 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH, BKS 22S1-509.19.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã S kiểm tra điện thoại của Diêu Thị T, Nguyễn Văn T3 và Đặng Sỹ T2 có cuộc gọi và tin nhắn nội dung trao đổi mua dâm và môi giới mại dâm.
Đối với Diêu Thị T, Triệu phương H, Nguyễn Văn T3 và Đặng Sỹ T2 có hành vi mua, bán dâm. Cơ quan điều tra Công an thị xã Sơn Tây ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Đối với nhà nghỉ M do ông Nguyễn Văn Q – sinh 1981 làm chủ, có giấy phép đăng ký kinh doanh về dịch vụ lưu trú ngắn ngày. Ngày 19/12/2024 khi quản lý nhà nghỉ, do có nghi ngờ việc mua bán dâm nên ông Q đã báo cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang việc mua bán dâm – Do vậy cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với ông Nguyễn Văn Q.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS 22S1-509.19 thu giữ khi bắt quả tang, Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Diêu Thị T, kết quả tra cứu không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.
Trong quá trrình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Diêu Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội đã truy tố bị cáo Diêu Thị T về “Tội môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Diêu Thị T từ 4 đến 6 tháng tù về Tội môi giới mại dâm, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/12/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 02 bao cao su và 02 vỏ bao cao su đã sử dụng. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng. Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P40 Pro và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 6A. Trả lại cho bị cáo 01 xe máy nhã hiệu Honda SH Mode và số tiền 1.600.000 đồng. Trả lại cho chị H 01 túi sách màu đen, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo Reno 6, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A58 và số tiền 730.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Diêu Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Diêu Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa trình bày ý kiến bào chữa, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Diêu Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản kiểm tra hành chính cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/12/2024, bị cáo Diêu Thị T đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt để chị Triệu Phương H mua bán dâm cho Đặng Sỹ T2, thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng. Khi chị H và T2 đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 302, nhà nghỉ M, địa chỉ: Thôn C, xã Đ, S, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an thị xã S kiểm tra hành chính, phát hiện. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.
[3] Xét hành vi phạm tội môi giới mại dâm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khả năng tiếp cận và nhận thức các quy định của pháp luật còn hạn chế. Đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. HĐXX căn cứ Điều 54 của BLHS, cho bị cáo mức án dưới khung hình phạt, xử cho bị cáo thời hạn phạt tù bằng thời hạn tạm giam cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su đã bóc, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P40 Pro và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 6A là phương tiện sử dụng để liên lạc mua bán và môi giới mại dâm nên cần tịch thu, phát mại sung ngân sách; Đối với số tiền 1.800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính và tiền mua bán dâm nên cần tịch thu, sung ngân sách; 01 xe máy nhã hiệu Honda SH Mode, 01 túi sách, màu đen, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo Reno 6, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A58 và số tiền 2.330.000 đồng xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
[8] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; Các điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Diêu Thị T 03 tháng 14 ngày tù về Tội môi giới mại dâm.
- - Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 02 bao cao su đã sử dụng; 02 vỏ bao cao hình vuông màu trắng, đã bị xé rách; 01 hộp bao cao su màu vàng, trên hộp có in chữ BLOVE, đã bị xé rách.
- Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng. Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P40 Pro và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 6A. Trả lại cho bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode và số tiền 1.600.000 đồng. Trả lại cho chị H 01 túi sác, màu đen; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo Reno 6; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A58 và số tiền 730.000 đồng.
- (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã S và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2025 giữa Kho bạc thị xã S và Công an thị xã S)
- - Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Diêu Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- - Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Diêu Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tú |
Bản án số 21/2025/HSST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - môi giới mại dâm
- Số bản án: 21/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: môi giới mại dâm
