Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-4-2025

V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 36/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Lương Huyền T - sinh năm 1994 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội

*Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1997 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Lương Huyền T là nguyên đơn trình bày: chị và anh Nguyễn Văn T1 qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V năm 2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Bản thân anh T1 không tu chí làm ăn, thường xuyên chơi bời; không đỡ đần công việc phụ giúp gia đình. Chị và bố mẹ chồng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T1 không thay đổi. Hai vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh T1. Về con chung: có 02 con là Nguyễn Lương An N – sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Lương Thảo N1 – sinh ngày 02/7/2020. Hiện các cháu đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà giải quyết để chị nuôi con và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con; vì hiện tại các cháu đang ở ổn định với chị, đồng thời các cháu đều là con gái. Bản thân chị đang mở cửa hàng kinh doanh với mức thu nhập khoảng 30 triệu/tháng, anh T1 bán hàng cháo vịt cùng bố mẹ; cả hai anh chị đều chưa có nhà riêng. Chị tha thiết đề nghị Toà cho chị được nuôi hai con; trường hợp không được thì chị nhận nuôi cháu Nguyên do cháu còn nhỏ chưa tự chăm sóc bản thân được. Về tài sản, công nợ chung: chị không đề nghị Toà giải quyết

Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Anh và chị Lương Huyền T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V năm 2018. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng bình thường xong tự dưng chị T đưa hai con ra ở riêng. Nay chị T có đơn đề nghị ly hôn, anh đề nghị Toà cứ giải quyết theo đơn của chị T do anh bận bán hàng không đến Toà làm việc. Về con chung có 02 con chung Nguyễn Lương An N – sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Lương Thảo N1 – sinh ngày 02/7/2020, quan điểm của anh là chị T nuôi được hai con thì nuôi, anh không có ý kiến gì. Về tài sản, công nợ chung anh không đề nghị Toà giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Lương Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1. Về con chung: giao chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Lương An N – sinh ngày 14/4/2016 và cháu Nguyễn Lương Thảo N1 – sinh ngày 02/7/2020; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T1. Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Lương Huyền T có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn anh Nguyễn Văn T1 và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 có đăng ký nơi cư trú: thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/3/2025 nhưng vắng mặt của anh T1 nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh T1 vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Huyền T và anh Nguyễn Văn T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND thị trấn V, huyện Ứ, TP . ngày 24/4/2018 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị T và anh T1 mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân một năm. Nay chị T có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của chị T và anh T1 mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt; đồng thời anh T1 cũng có quan điểm đề nghị Toà giải quyết theo đơn của chị T nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lương Huyền T và anh Nguyễn Văn T1 có 02 con chung cháu Nguyễn Lương An N – sinh ngày 14/4/2016 và cháu Nguyễn Lương Thảo N1 – sinh ngày 02/7/2020.

Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và nguyện vọng của cháu thì Hội đồng xét xử thấy: chị T và anh T1 đều chưa có nhà riêng; hai anh chị đều là lao động tự do nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Cả hai cháu đều là con gái và đang ở với chị T; cháu N có quan điểm xin ở với mẹ. Quan điểm về con chung của anh T1 chưa rõ ràng là đồng ý cho chị T nuôi hay không mà chỉ có ý kiến: chị T có khả năng nuôi được thì cứ nuôi. Trong khi đó, chị T đề nghị được nuôi cả hai con. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện sinh hoạt, môi trường và nguyện vọng của con cũng như ý kiến đại diện địa phương: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị T nuôi cả hai cháu là phù hợp, đảm bảo cho các cháu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T1 cho đến khi có thay đổi khác; anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Lương Huyền T và anh Nguyễn Văn T1 không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lương Huyền T phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung: Chị Lương Huyền T và anh Nguyễn Văn T1 có 02 con chung. Khi ly hôn, giao chị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Lương An N – sinh ngày 14/4/2016 và cháu Nguyễn Lương Thảo N1 – sinh ngày 02/7/2020; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T1 cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Anh T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Lương Huyền T và anh Nguyễn Văn T1 đều không đề nghị Toà giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lương Huyền T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012156 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger