TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02-4-2025 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Ông Đào Xuân Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án huyện T, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 415/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QÐST-HNGĐ ngày 20/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1999; nơi thường trú: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm 1999; nơi thường trú: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Văn L đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2022 tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến đầu tháng 10/2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cãi vã nhau trong sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, trong thời gian này vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Dương Văn L.
2
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Dương Bảo T, sinh ngày 23/8/2022 và Hoàng Dương Minh N, sinh ngày 30/10/2024. Hiện nay, cháu T đang ở cùng anh L, cháu N đang ở cùng chị. Ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi cháu Minh N, đề nghị giao cho anh L tiếp tục nuôi cháu Bảo T. Chị không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm công nhân, thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/tháng, chị ở cùng bố mẹ đẻ. Chị đảm bảo đủ điều kiện về thời gian, kinh tế để nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên tòa hôm nay, anh L vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn nhiều lần không chấp hành đúng quy định về nghĩa vụ có mặt tại tòa theo quy định.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Dương Văn L.
- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi 01 con chung là Hoàng Dương Minh N, sinh ngày 30/10/2024; giao cho anh Dương Văn L trực tiếp nuôi 01 con chung là Dương Bảo T, sinh ngày 23/8/2022.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Dương Văn L hiện cư trú tại xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
3
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
[3] Xác định quan hệ pháp luật: Nguyên đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn L đăng ký kết hôn ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Lời khai của nguyên đơn về tình trạng hôn nhân là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Có căn cứ để xác định vợ chồng chị H, anh L không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, tôn trọng và chung sống cùng nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị H về việc xin ly hôn anh Dương Văn L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi con: Lời khai của chị H về con chung phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Có căn cứ để xác định vợ chồng chị H, anh L có 02 con chung, hiện cháu Hoàng Dương Minh N, sinh ngày 30/10/2024 còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi do chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Dương Bảo T, sinh ngày 23/8/2022 do anh L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Các con chung đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Chị H làm làm công nhân, thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/tháng; anh L làm làm thợ xây, thu nhập trung bình 5.000.000 đồng/tháng, chị H và anh L đều đủ điều kiện nuôi con. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập, cần giữ nguyên việc nuôi con như hiện tại, giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Dương Minh N; giao cho anh Dương Văn L được trực tiếp nuôi con chung là Dương Bảo T là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị H không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí, quyền kháng cáo:
4
Nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Dương Văn L.
- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi 01 con chung là Hoàng Dương Minh N, sinh ngày 30/10/2024; giao cho anh Dương Văn L trực tiếp nuôi 01 con chung là Dương Bảo T, sinh ngày 23/8/2022.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003308 ngày 19/12/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Hoàng Thị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Văn Hiếu |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
