TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/DS – ST
Ngày: 27 - 3 - 2025
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng,
thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Huy;
- Ông Phạm Minh Hiếu;
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa:
Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2024/TLST- DS, ngày 07 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST - DS, ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà HM T, số D, đường N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T, Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình A, Giám đốc Trung tâm Q nợ.
(Văn bản ủy quyền số 846/2023/BVBank/UQ-QL&THN ngày 14/12/2023).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình A:
- Ông Phạm Xuân S; Địa chỉ: Số E, đường L, phường G, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trịnh Công D; Địa chỉ: Số A, đường N, phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Phạm Văn T1; Địa chỉ: Số D, đường T, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
(Văn bản ủy quyền số 835/24/BVBank/UQ-QL&THN ngày 15/8/2024)
- Bị đơn:
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc P1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc A1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông D, bà H, ông P có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B, ông Trịnh Công D trình bày: Ngày 20/02/2023, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị H có ký hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0162300007500 (sau đây viết là hợp đồng tín dụng số 0162300007500) với Ngân hàng thương mại cổ phần B (sau đây viết là Ngân hàng), nội dung là ông Đ, bà H vay của Ngân hàng số vốn gốc 2.100.000.000 đồng, lãi suất là 12,8%/năm, lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm trên số dư nợ chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn thì còn phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất là 150% lãi suất trong hạn. Ngày 25/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đ và bà H số tiền 2.100.000.000 đồng theo giấy nhận nợ 0162300007500 002 và 0162300007500 003, thời hạn trả nợ là ngày 25/01/2024.
Để bảo đảm cho khoản vay, ngày 21/02/2023, ông Đ và bà H có ký hợp đồng thế chấp số 0162300007600, thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất, nhà ở và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 139, 140, cùng thuộc tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An, do ông Đ đứng tên chủ sử dụng. Hợp đồng được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Từ ngày 25/12/2023, ông Đ và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngày 05/12/2023, ông Đ chết, ông Đ có người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ là bà Huỳnh Thị H, con ruột là ông Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Ngọc D1, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, ông Nguyễn Ngọc P, ông Nguyễn Ngọc P1, ông Nguyễn Ngọc T3, ông Nguyễn Văn P2. Sau khi ông Đ chết, các ông bà A1, D1, T2, P, P1, T3, P2 đã làm văn bản từ chối nhận toàn bộ di sản của ông Đ và đã thông báo sự việc này cho Ngân hàng biết.
Nay, Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Buộc bà Huỳnh Thị H, ông Nguyễn Ngọc A1, ông Nguyễn Ngọc D1, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, ông Nguyễn Ngọc P, ông Nguyễn Ngọc P1, ông Nguyễn Ngọc T3, ông Nguyễn Văn P2 trả cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 27/3/2025 là 2.598.914.015 đồng, gồm: Nợ gốc là 2.099.999.946 đồng, lãi trong hạn là 22.384.996 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 2.631.003 đồng, lãi quá hạn là 473.898.070 đồng. Trong đó:
Nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 002 là 1.856.225.178 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.499.999.946 đồng, lãi trong hạn là 15.862.256 đồng, lãi phạt chậm lãi là 1.864.358 đồng, lãi quá hạn là 338.498.618 đồng.
Nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 003 là 742.688.837 đồng, gồm: Nợ gốc là 600.000.000 đồng, lãi trong hạn là 6.522.740 đồng, lãi phạt chậm lãi là 766.645 đồng, lãi quá hạn là 135.399.452 đồng.
Buộc bà các ông bà trên liên đới trả toàn bộ tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/3/2025 theo hợp đồng tín dụng số 0162300007500 ngày 20/02/2023, giấy nhận nợ số 0162300007500 002 và giấy nhận nợ số 0162300007500 003, cùng ngày 25/7/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp các ông bà trên không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 139, 140, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng
Sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không thanh toán hết nợ thì buộc các ông bà trên tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng trong phạm vi di sản của ông Nguyễn Văn Đ chết để lại. Ngân hàng không yêu cầu tính lãi chậm trả đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Huỳnh Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng. Ngày 20/02/2023, bà và ông Đ có ký hợp đồng tín dụng số 0162300007500 với Ngân hàng để vay số tiền 2.100.000.000 đồng. Ngày 25/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền trên cho ông bà. Về thời hạn vay, lãi suất, tài sản thế chấp gồm nhà và đất, số tiền còn nợ như Ngân hàng trình bày là đúng. Ngày 05/12/2023, ông Đ chết, bà và ông Đ có 07 người con, gồm ông Nguyễn Ngọc A1, ông Nguyễn Ngọc D1, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, ông Nguyễn Ngọc P, ông Nguyễn Ngọc P1, ông Nguyễn Ngọc T3, ông Nguyễn Văn P2. Cha mẹ của ông Đ đã chết trước ông Đ. Sau khi ông Đ chết, tất cả các con của ông bà đã làm văn bản từ chối nhận toàn bộ di sản của ông Đ và đã thông báo cho bà biết sự việc này. Hiện, chỉ có bà là người thừa kế nhận toàn bộ di sản của ông Đ. Bà đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và xin được miễn án phí vì bà là người cao tuổi.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Ngọc P trình bày: Ông là con ruột của ông Đ và bà H. Ông đồng ý với lời trình bày của Ngân hàng và bà H về số tiền vay, số tiền còn nợ, tài sản thế chấp, về nhân thân của ông Đ và người thừa kế của ông Đ. Sau khi ông Đ chết thì tất cả các anh chị em của ông có ký văn bản từ chối nhận toàn bộ di sản của ông Đ. Nay, Ngân hàng khởi kiện thì ông đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Ngày 20/02/2023, ông Đ và bà H có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông bà đủ số tiền 2.100.000.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay, các bên ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 139, 140, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng. Đến nay đã quá thời hạn trả nợ mà ông Đ và bà H chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ. Ngày 05/12/2023, ông Đ chết, ông Đ có người thừa kế là bà Huỳnh Thị H, ông Nguyễn Ngọc A1, ông Nguyễn Ngọc D1, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, ông Nguyễn Ngọc P, ông Nguyễn Ngọc P1, ông Nguyễn Ngọc T3, ông Nguyễn Văn P2. Theo quy định của pháp luật thì người thừa kế phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong phạm vi di sản của người chết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện buộc các ông bà có tên nêu trên trả nợ và xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng tín dụng và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, trong số các bị đơn có bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 3, 14 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm h Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, các bị đơn ông Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Ngọc D1, Nguyễn Ngọc P1, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Văn P2 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn có tên nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản:
[2.1.1] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng và bà H thống nhất là ngày 20/02/2023, ông Nguyễn Văn Đ, bà Huỳnh Thị H và Ngân hàng tự nguyện giao kết hợp đồng tín dụng số 0162300007500. Ngày 25/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đ và bà H số tiền 2.100.000.000 đồng theo 02 giấy nhận nợ, trong đó giải ngân 1.500.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 0162300007500 002 và giải ngân 600.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 0162300007500 003. Thời hạn vay là đến ngày 25/01/2024. Lãi suất cho vay trong hạn là 12.8%/năm, lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm trên số dư nợ chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả.
[2.1.2] Các bên cũng thống nhất, để bảo đảm cho khoản vay, ông Đ, bà H và Ngân hàng còn giao kết cam kết bảo đảm bằng tài sản ngày 20/02/2023 và hợp đồng thế chấp số 0162300007600 ngày 21/02/2023, số công chứng 1.102, quyển số 02/2023/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C vào ngày 22/02/2023. Theo đó, ông Đ và bà H thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất, nhà ở và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 139, loại đất trồng cây lâu năm và thửa đất số 140, loại đất thổ, cùng thuộc tờ bản đồ số 6, tại ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng.
[2.1.3] Từ đó xác định, hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp và cam kết bảo đảm bằng tài sản được các bên tự nguyện giao kết, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ theo Điều 3, 117, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015, xác định các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật, buộc các bên tôn trọng và thi hành. Nay, đã quá hạn trả nợ mà ông Đ và bà H chưa trả nợ cho Ngân hàng nên ông bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ theo thỏa thuận của các bên tại các hợp đồng nêu trên và quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Khoản 7 Điều 323, Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015, xác định yêu cầu khởi kiện về việc trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng là có cơ sở.
[2.2] Chủ thể và phạm vi trả nợ:
[2.2.1] Ngày 05/12/2023, ông Đ chết, không để lại di chúc, cha mẹ đẻ của ông Đ đã chết trước ông Đ, ông Đ không có cha mẹ nuôi và con nuôi. Căn cứ Điều 613, 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự năm 2015, xác định người thừa kế của ông Đ gồm có vợ là bà Huỳnh Thị H và 07 người con ruột là các ông bà Nguyễn Ngọc D1, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Thị Ngọc T2, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Ngọc P1, Nguyễn Văn P2.
[2.2.2] Tại phiên tòa, bà H và ông P cung cấp bản sao văn bản từ chối nhận di sản của các ông bà Nguyễn Thị Ngọc T2, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Ngọc P1, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Văn P2, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Ngọc D1, văn bản đã được công chứng, nội dung là các ông bà từ chối nhận toàn bộ di sản của ông Đ. Tại Điều 620 của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản...” Do đó, việc các ông bà A1, D1, T2, P, P1, T3, P2 từ chối nhận toàn bộ di sản của ông Đ là quyền của các ông bà, được pháp luật cho phép thực hiện. Đồng thời, việc từ chối nhận di sản đã được lập thành văn bản, được thông báo cho bà H và Ngân hàng. Cho nên, việc từ chối nhận di sản đã tuân thủ đúng hình thức và nội dung theo Điều 620 của Bộ luật dân sự năm 2015, vì vậy có hiệu lực pháp luật, buộc mọi chủ thể phải tôn trọng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015. Vì lẽ đó, hiện tại chỉ còn bà H là người thừa kế được nhận toàn bộ di sản của ông Đ chết để lại nên bà H có toàn quyền và nghĩa vụ đối với di sản; các ông bà D1, A1, T2, P, T3, P1, P2 không còn được hưởng quyền lợi và cũng không còn trách nhiệm về tài sản liên quan đến di sản của ông Đ.
[2.2.3] Tại Khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, ... ” Nghĩa là, tài sản sử dụng để trả nợ cho người chết chính là di sản của người chết. Bà H là người nhận di sản của ông Đ nên chỉ có bà H có quyền và nghĩa vụ sử dụng di sản của ông Đ để trả nợ cho ông Đ. Các ông bà D1, A1, T2, P, T3, P1, P2 không có quyền và nghĩa vụ sử dụng di sản để trả nợ cho ông Đ. Bên cạnh đó, bà H cũng là bên vay trong hợp đồng tín dụng nên bà H còn phải trả nợ cho Ngân hàng bằng toàn bộ tài sản của bà H.
[2.3] Về nợ gốc và lãi: Tại phiên tòa, Ngân hàng và bà H thống nhất xác định số nợ gốc và lãi mà bà H và ông Đ còn nợ tính đến ngày 27/3/2025 là 2.598.914.015 đồng, trong đó nợ gốc là 2.099.999.946 đồng, lãi trong hạn là 22.384.996 đồng, lãi chậm trả lãi là 2.631.003 đồng, lãi quá hạn là 473.898.070 đồng. Trong đó: nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 002 là 1.856.225.178 đồng, gồm: nợ gốc là 1.499.999.946 đồng, lãi trong hạn là 15.862.256 đồng, lãi phạt chậm lãi là 1.864.358 đồng, lãi quá hạn là 338.498.618 đồng; nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 003 là 742.688.837 đồng, gồm: nợ gốc là 600.000.000 đồng, lãi trong hạn là 6.522.740 đồng, lãi phạt chậm lãi là 766.645 đồng, lãi quá hạn là 135.399.452 đồng. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng buộc bà H trả số tiền trên là có cơ sở. Ngoài ra, bà H còn phải trả tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh từ ngày 28/3/2025 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 0162300007500, giấy nhận nợ số 0162300007500 002, giấy nhận nợ số 0162300007500 003, cùng ngày 25/7/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
[2.4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, buộc bà Huỳnh Thị H trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, tính đến ngày 27/3/2025 là 2.598.914.015 đồng; tiếp tục trả lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh từ ngày 28/3/2025 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 0162300007500, giấy nhận nợ số 0162300007500 002, giấy nhận nợ số 0162300007500 003, cùng ngày 25/7/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Bà H trả nợ bằng tài sản của bà H và di sản của ông Nguyễn Văn Đ chết để lại. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc các ông bà A1, D1, T3, P1, P2, P và T2 liên đới cùng bà H trả nợ cho ông Đ trong phạm vi di sản của ông Đ chết để lại.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.200.000 đồng. Bà Huỳnh Thị Hồng C toàn bộ. Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng xong nên buộc bà H trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.200.000 đồng. Ngân hàng không yêu cầu tính lãi chậm trả đối với số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Ngân hàng chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Tại phiên tòa, bà H đề nghị xin miễn án phí do bà là người cao tuổi, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí cho bà H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3, 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h Khoản 1 Điều 40 khoản 1 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 3, 117, 299, 317, 318, 319, 323, 401, 463, 466, 613, 615, 620, 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B, về việc buộc ông Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Ngọc D1, Nguyễn Ngọc P1, Nguyễn Văn P2, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Ngọc T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 liên đới cùng bà Huỳnh Thị H trả nợ cho ông Nguyễn Văn Đ trong phạm vi di sản của ông Nguyễn Văn Đ chết để lại, theo hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0162300007500 ngày 20/02/2023.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B, về việc buộc bà Huỳnh Thị H trả nợ bằng tài sản của bà Huỳnh Thị H và toàn bộ di sản của ông Nguyễn Văn Đ chết để lại, theo hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0162300007500 ngày 20/02/2023, giấy nhận nợ số 0162300007500 002 và giấy nhận nợ số 0162300007500 003, cùng ngày 25/7/2023.
Buộc bà Huỳnh Thị H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/3/2025 là 2.598.914.015 đồng, gồm: Nợ gốc là 2.099.999.946 đồng, lãi trong hạn là 22.384.996 đồng, lãi chậm trả lãi là 2.631.003 đồng, lãi quá hạn là 473.898.070 đồng. Trong đó:
Nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 002 là 1.856.225.178 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.499.999.946 đồng, lãi trong hạn là 15.862.256 đồng, lãi phạt chậm lãi là 1.864.358 đồng, lãi quá hạn là 338.498.618 đồng.
Nợ theo giấy nhận nợ số 0162300007500 003 là 742.688.837 đồng, gồm: Nợ gốc là 600.000.000 đồng, lãi trong hạn là 6.522.740 đồng, lãi phạt chậm lãi là 766.645 đồng, lãi quá hạn là 135.399.452 đồng.
Kể từ ngày 28/3/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng, bà Huỳnh Thị H còn phải trả toàn bộ tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0162300007500 ngày 20/02/2023, giấy nhận nợ số 0162300007500 002 và giấy nhận nợ số 0162300007500 003, cùng ngày 25/7/2023.
Trường hợp bà Huỳnh Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Tài sản bảo đảm gồm:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 6, loại đất CLN, diện tích 549m², tại ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 280404, vào sổ số CH 000771 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/01/2015 cho ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng.
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT, diện tích 341m², tại ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 280403, vào sổ số CH 000773 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/01/2015 cho ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng.
Sau khi xử lý tài sản bảo đảm nêu trên mà không thanh toán hết nợ thì buộc bà Huỳnh Thị H tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B bằng tài sản của bà Huỳnh Thị H và toàn bộ di sản của ông Nguyễn Văn Đ chết để lại.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.200.000 đồng. Buộc bà Huỳnh Thị Hồng C toàn bộ. Do Ngân hàng thương mại cổ phần B đã nộp tạm ứng xong nên buộc bà Huỳnh Thị H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền 1.200.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần B chịu 300.000 đồng án phí. Tạm ứng án phí Ngân hàng thương mại cổ phần B có nộp 39.136.000 đồng theo Biên lai thu số 0013391 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, chuyển sang án phí 300.000 đồng, hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần B 38.836.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Thị H.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.
- Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tô Cẩm Hương |
Bản án số 21/2025/DS – ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Số bản án: 21/2025/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần B "Hợp đồng tín dụng" Nguyễn Thị H
