|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 24 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tĩnh.
Ông Phạm Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An
tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị X; sinh năm: 1963 tại Long An; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Số A Quốc lộ A, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông: Nguyễn Văn L; con bà: Dương Thị X1; chồng: Cố Văn P, sinh năm 1962; con: Cố Thị Thúy P1, sinh năm 1984; con: Cố Thị Thúy G, sinh năm 1986; con: Nguyễn Thanh Bá S, sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Lê Xuân T, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số D ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phan Ngọc B, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, bị cáo Nguyễn Thị X điều khiển xe mô tô (không biết biển số) chở Phan Ngọc B sinh năm 1989, HKTT: số B Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An (cháu bị cáo X) đến nhà anh Lê Xuân T, địa chỉ số D ấp B, xã B, thành phố T để đòi tiền anh T thiếu trước đó. Lúc này, anh T đang nằm trên võng và có để 02 chiếc điện thoại di động trên bàn, sau đó T và X cự cãi với nhau, X cầm nón bảo hiểm đang đội trên đầu ném xuống ghế gần chỗ anh T ngồi, anh T dùng tay nhặt nón bảo hiểm định đánh lại thì bị Phan Ngọc B ngăn cản, không cho anh T ném X. Bị cáo X lợi dụng Phan Ngọc B và Lê Xuân T xô xác nhau, che khuất tầm nhìn, X lén lấy 02 chiếc điện thoại di động của anh T để trên bàn bỏ vào túi áo bên trái rồi đi ra ngoài, đem 02 chiếc điện thoại cất giấu trong chậu bê tông cách nhà anh T khoảng 100 mét. Khoảng 10 phút sau, anh T phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại nên trình báo Cơ quan Công an.
Kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An kết luận:
- Điện thoại di động Samsung Galaxy J8, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 04/11/2024 là 1.000.000 đồng.
- Điện thoại di động Samsung Galaxy A04, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 04/11/2024 là 1.300.000 đồng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện sửa chữa khắc phục hậu quả đây là những tình tiết giảm nhẹ.
Tang vật thu giữ: 02 điện thoại di động. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lê Xuân T 02 chiếc điện thoại nêu trên và anh T không yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSTPTA ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Thị X về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà Nguyễn Thị X gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị X, mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: không.
Về vật chứng: Không.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị X tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng với bản kết luận về định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/11/2024, tại số D ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An bị cáo Nguyễn Thị X đã thực hiện hành vi lấy cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J8, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04, tổng trị giá là 2.300.000 đồng của anh Lê Xuân T.
Quá trình làm việc, Nguyễn Thị X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Thị X phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản do bị cáo X gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Thị X với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Thị X đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, bị cáo có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bởi vậy, chưa cần thiết phải buộc chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về vật chứng: Không.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không .
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Giao bị cáo Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Long An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: “ Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
4. Về tang vật chứng: Không.
5. Về trách nhiệm dân sự: Không .
6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Nguyễn Thị X thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Tuyến |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Văn Sở - Lê Thị Đông |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Ngọc Tuyến |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuyến phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
