Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 21/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Viên Đức
  2. Ông Phan Văn Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng Minh H, sinh ngày 03/4/1986; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: C L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng H1 và bà Nguyễn Thị Thu T; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 20/10/2024, tại Trại Tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn K, sinh năm 2003; địa chỉ: 5 H, xã B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Duy B, sinh năm 1998; địa chỉ: A C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Tiến N, sinh năm 1996; địa chỉ: A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng

mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 05 ngày 11/10/2024, tại trước nhà A L. Phường C, Quận A, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 11 phát hiện đối tượng Võ Duy B chở đối tượng Lê Văn K có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong điện thoại di động của đối tượng K có tin nhắn mua ma túy. Đối tượng K khai nhận đang đến địa chỉ A L, Phường C, Quận A để mua ma túy của đối tượng.

Khoảng 21 giờ 45 ngày 11/10/2024, Công an P, Quận A cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tiến hành kiểm tra Phòng cho thuê Thủy T1 tại địa chỉ A L, Phường C, Quận A. Qua kiểm tra Phòng 402 do đối tượng Nguyễn Đăng Minh H thuê ở, Công an phát hiện tại giường của đối tượng H có 01 gói nilon chứa ma túy, 01 đoạn ống hút chứa ma túy, 01 ống thủy tinh đầu phểu tròn và phát hiện trong túi quần của đối tượng H đang mặc có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gấp lại, bên trong có 01 gói nilon chứa ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 12088 ngày 18/10/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: 03 gói niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Minh H và hình dấu Công an P, Quận A. Cụ thể bên trong có:

  • Gói: 01 gói ni long chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0466 gam.
  • Gói 2: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gấp lại, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1576 gam.
  • Gói: 01 đoạn ống hút chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0887 gam.

Tổng khối lượng 03 gói ma túy là 0,2929 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Đăng Minh H thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Số ma túy bị thu giữ là của bị can H. Ngày 10/10/2024, bị can H đặt mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng qua mạng xã hội Facebook từ đối tượng tên “Phi Hổ" (không rõ lai lịch). "Phi Hổ mang ma túy đến trước địa chỉ nhà số A L, Phường C, Quận A để giao dịch với bị can H. Đến tối cùng ngày, đối tượng Lê Văn K nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho bị can H hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng. Bị can H đồng ý và hẹn giao dịch ngày 11/10/2024. Bị can H chia số ma túy trên thành 03 phần, cụ thể: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gấp lại, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1576 gam để bán cho đối tượng K; 01 đoạn ống hút chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0887 gam và 01 gói nilon chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0466 gam cất giữ dùng để bán. Tuy nhiên, bị can H chưa kịp giao ma túy cho đối tượng K (do đối tượng K chưa đưa tiền cho bị can H) thì bị bắt giữ như trên.

Tại Cơ quan điều tra, đối tượng Lê Văn K trình bày như sau: Ngày 10/10/2024, do cần sử dụng ma túy, đối tượng K đặt mua ma túy của tài khoản Zalo tên là "Chino", là của bị can Nguyễn Đăng Minh H với giá 300.000 đồng. Ngày 11/10/2024, khi đang trên đường đến địa chỉ A L, Phường C, Quận A để mua ma túy của bị can H thì đối tượng K bị phát hiện như trên. Đối tượng K mua ma túy của bị can H lần đầu. Đối với đối tượng Văn Duy B1, ngày 11/10 2024, đối tượng K nói nhờ đối tượng B1 chở đi công việc. Đối tượng B1 không biết đối tượng K đi mua ma túy. Đối tượng B1 không sử dụng ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, đối tượng Võ Duy B trình bày như sau: Ngày 11/10/2024, đối tượng K nhờ đối tượng B chở đi công việc. Đối tượng B không biết đối tượng K đi mua ma túy. Đối tượng B không sử dụng ma túy.

Vật chứng thu giữ:

  • Ba gói niêm phong ghi vụ số A (3727/24), bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, là ma túy còn lại sau giám định.
  • Một điện thoại di động màu xanh, là phương tiện bị can H dùng để liên lạc bán ma túy.
  • Một chai nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa, một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một bình gas mini, một kéo, một quẹt gas, là dụng cụ bị can H dùng để phân chia ma túy.
  • Tiền Việt Nam 2.000 đồng, bị can H dùng để gói ma túy.

Tại Bản cáo trạng số 21/CT-VKSQ11 ngày 03/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Nguyễn Đăng Minh H tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng Minh H có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Văn K, ông Võ Duy B và ông Nguyễn Tiến N vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Minh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là ba gói niêm phong có chứa số ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một chai nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa, một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một bình gas mini, một kéo, một quẹt gas.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là một điện thoại di động màu xanh.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là tiền Việt Nam 2.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 11/10/2024, tại Phòng cho thuê Thủy T1 tại địa chỉ A L, Phường C, Quận A, bị cáo Nguyễn Đăng Minh H đã có hành vi cất giữ ma túy để bán nhưng chưa kịp giao ma túy cho đối tượng mua thì bị bắt quả tang.

Số lượng ma túy do bị cáo Nguyễn Đăng Minh H cất giữ để bán là 0,2929 gam (không phẩy hai chín hai chín gram), loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng Minh H đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Đăng Minh H thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm lời để có tiền sử dụng ma túy.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng Minh H đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với vật chứng là ba gói niêm phong ghi vụ số 12088 (3727/24), có chứa số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với vật chứng là một chai nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa, một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một bình gas mini, một kéo, một quẹt gas, là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015,

điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

  • Đối với vật chứng là một điện thoại di động màu xanh, bị cáo H dùng liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với vật chứng là tiền Việt Nam 2.000 đồng, là tài sản bị cáo H dùng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[4] Về xem xét đối với khoản thu lợi bất chính và việc phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xác định dự định bán ma túy nhưng bị cáo chưa bán được thì đã bị bắt giữ; ngoài ra, quá trình điều tra không xác định được bị cáo đã bán được ma túy và đã thu lợi nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để buộc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính.

Do bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa thực hiện được việc giao nhận ma túy và tiền thì bị bắt giữ; Cơ quan điều tra không chứng minh được bị cáo đã có thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy; bị cáo không có việc làm có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành khoản nộp phạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng Lê Văn K có hành vi liên lạc và hẹn nơi giao nhận để mua ma túy loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Đăng Minh H vào ngày 11/10/2024 để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy; nhân thân của đối tượng K không có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự đối với đối tượng K là có căn cứ.

Đối với đối tượng Võ Duy B là người được đối tượng Lê Văn K nhờ chở đi công việc; đối tượng B không biết đối tượng K đi mua ma túy; đối tượng B không sử dụng ma túy; nhân thân của đối tượng B không có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự đối với đối tượng B là có căn cứ.

Đối với đối tượng Nguyễn Tiến N là chủ Phòng cho thuê Thủy T1 không biết bị cáo H thuê phòng để cất giấu và mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự đối với đối tượng N là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên “Phi Hổ” (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo H tại trước nhà số A L, Phường C, Quận A vào ngày 10/10/2024, Cơ quan điều tra chưa xác định được nên chưa có đủ cơ sở để xử lý. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ

quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng.

[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Đăng Minh H, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đăng Minh H;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy ba gói được niêm phong ghi vụ số 12088 (3727/24) (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 02/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu, tiêu hủy một chai nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa, một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một bình gas mini, một kéo, một quẹt gas (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 02/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động màu xanh (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 02/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền Việt Nam 2.000 đồng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 02/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger